Tâm tình của một Cựu Chủng sinh Huế sau 55 năm xa trường

Thứ sáu - 21/02/2020 03:36
Ban Biên tập trân trọng giới thiệu một cánh chim thiên di từ hàng thập niên này, mới trở về “tổ ấm” đó là anh Nguyễn Hoàng Quỳnh. Với tâm tình dạt dào xúc cảm, anh Quỳnh sẽ chấm phá một vài tâm sự cho ngày trở lại… Xin cám ơn anh Nguyễn Hoàng Quỳnh.
Tâm tình của một Cựu Chủng sinh Huế sau 55 năm xa trường
Mỗi chủng sinh khi gia nhập Tiểu Chủng viện đều có một niên hiệu để đánh dấu ngày nhập trường của mình như AN…,PX…, HT… Riêng tôi không có được cái diễm phúc ấy! Có chăng chỉ là mạo nhận và hưởng ké hồng phúc của các anh lớp tôi. Tôi gia nhập TCV Hoan Thiện NK 1963-1964, nhưng học chung với lớp PX57.

Khi cha Fx. Nguyễn Văn Thuận (sau nầy là TGM và Hồng Y) được bổ nhiệm làm bề trên TCV Hoan Thiện vào năm 1962, ngài đã cho phép tuyển chủng sinh lớn tuổi vào TCV và nhập ngang vào các lớp hiện hữu, tiếp tục học cho xong chương trình trung học phổ thông. Tôi là một trong số những người được diễm phúc đó.

Vào mùa hè năm 1963, tôi được cha Giuse Lê Hữu Huệ (RIP) bảo trợ và giới thiệu tôi với cha bề trên. Số tôi đã gặp may, cha bề trên đã đồng ý nhận tôi vào, cho nhập vào lớp Đệ Nhất – NK 1963-1964 – học chương trình Việt – ban D Cổ ngữ La tinh. Đó là lớp PX57, gồm các anh Trần Bá Chiến (ở Pháp), Nguyễn Đại Đồng, Cha Nguyễn Hữu Giải, Cha Trần Văn Hiệu, Cha Lê Sĩ Hiền, Cha Nguyễn Văn Phúc, Đoàn Phúc (RIP), Nguyễn Kim Suyền (ở Rome), Lê Ngọc Thạch (RIP) và tôi Nguyễn Hoàng Quỳnh.. Trước đó, tôi đã có bằng Tú tài I – ban D La tinh (từ dòng Châu Sơn chuyển qua) nên dễ dàng hòa nhập nhanh chóng với lớp này cả về tu đức lẫn học tập. Tôi còn nhớ NK 1963-1964, cha bề trên dạy chúng tôi môn La tinh và Sử địa thế giới, cha Trần Văn Hoài (sau này là Đức ông tại Rôma) dạy môn Tâm lý học (triết lớp đệ nhất), cha Nguyễn Như Thể (sau nầy là TGM Huế) phụ trách môn Đạo đức học và Siêu hình học, cha Etcharren dạy Pháp văn. Cha bề trên còn mời thầy Đương, trường Thiên Hữu dạy chúng tôi môn Toán vào buổi tối. TCV Hoan Thiện năm đó còn có các cha giáo: cha Đoàn Quang Hàm (RIP), cha Nguyễn Như Tự (RIP), cha quản lý Nguyễn Văn Giáo (RIP) và cha Hồ Văn Quý (RIP).

Nói sao hết được những lời động viên khích lệ đến từ cha bề trên, các cha giáo, chín anh em bạn cùng lớp dành cho tôi vì họ biết tôi là dân tu muộn, là người ngoại đạo mới nhập chủng viên lần đầu, đâu hiểu biết nhiều các sinh hoạt của chủng viện như các anh. Trong lớp tôi các anh có nhiều tài đức được cha bề trên phân công, từng hai người một, phụ trách chăm sóc (surveillant) các lớp nhỏ từ lớp 8 (huitième) đến lớp 5 (cinquième) trong các sinh hoạt học tập, tu đức, hướng dẫn đi dạo vào các ngày Chúa nhật, ngày lễ v.v.. Còn tôi, chân ướt chân ráo, tài hèn sức mọn, cha bề trên dành cho tôi công việc (không giống ai) hằng ngày đem thuốc uống cho các chú bị bệnh đang nằm nghỉ tại các dãy lầu… Đến bữa ăn, đến nhà bếp mang cháo lên cho các chú ấy. Ngài thấy công việc này phù hợp với tôi, và tôi cũng cảm thấy vui vì có góp một chút công sức an ủi anh em mình. Đó cũng là một kỷ niệm khó quên …

Như vậy, vào NK 1962-1963, theo đề xuất của cha bề trên mới, tôi là một trong số những chủng sinh tu muộn. Ngoài tôi, còn có các anh Trần Minh Huy, anh Nguyễn Đức Tuân, anh Hoàng Đình Thượng đã xong Tú tài II, đang học bổ túc La tinh. Sau nầy, các anh Trần Minh Huy và Nguyễn Đức Tuân đã lãnh nhận thiên chức linh mục.

Cuối NK 1963-1964, lớp PX57 chính thức còn lại chín anh em và tôi nhập muộn ... Mười (10) anh em chúng tôi năm đó đều thi đậu Tú tài II- ban D- Cổ ngữ La tinh và chuẩn bị vào Đại chủng viện Xuân Bích. Hai anh Nguyễn Hữu Giải và Nguyễn Văn Phúc được tuyển chọn vào Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đàlạt, tôi và anh Trần Bá Chiến phải đi giúp xứ trước (probation). Còn lại sáu (6) anh được chuyển vào học triết lý tại Đại chủng viện Nha Trang.

Số tôi may mắn nhưng cũng vắn số - phải xa mái trường thân yêu, xa anh em thân thiết quá sớm để lên đường nam tiến – chọn Sàigòn làm nơi kiếm kế sinh nhai… Nỗi lo “cơm áo gạo tiền” đã chiếm hết quỹ thời gian… không cho tôi nhiều cơ hội để cùng chia sẻ vui buồn với anh em trong các giai đọan khó khăn của Tiểu chủng viện. Thực tình, tâm tư lúc nào cũng hướng về quá khứ, về chốn xưa nơi các ân sư đã truyền dạy cho tôi nhiều kiến thức cả đạo lẫn đời, và cả những ân sủng Chúa ban cho tôi trong suốt hơn 50 năm qua.

Nhìn lại quãng thời gian hơn 50 năm trôi qua bản thân chưa làm được điều gì hữu ích cho anh em, cho trường cũ, cho các ân sư thì cũng cảm thấy buồn và luyến tiếc… Xin gởi lời tạ lỗi đến tất cả mọi người với lời xin cảm thông tha thứ. Giờ đây cảm nhận đời đang về chiều, sức đã tàn, lực đã cạn kiệt, đang biết mình đang ở nơi nào và sẽ đi về đâu! Chỉ biết tạ ơn Chúa, cám ơn các ân sư, cám ơn các bạn đồng lớp đã luôn hỗ trợ bằng lời cầu nguyện và nhắc nhớ nhau trong các dịp kỷ niệm, các lễ hội…

Nguyện xin Thiên Chúa trả công cho các cha giáo qua các thời kỳ, các anh em cựu chủng sinh Huế các lớp từ 1953 đến 1979 – đặc biệt anh em lớp PX57, được tràn đầy hồng ân Thiên Chúa, nhiều sức khỏe, được sống hạnh phúc, an bình, đạo hạnh như là chứng nhân của Đức Kitô ngay giữa trần gian…

Ant. Nguyễn Hoàng Quỳnh (HT63-PX57)
 
-
 
-
 
-
 
-

Tác giả bài viết: Ant. Nguyễn Hoàng Quỳnh PX57

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Đang truy cập86
  • Máy chủ tìm kiếm8
  • Khách viếng thăm78
  • Hôm nay20,253
  • Tháng hiện tại102,828
  • Tổng lượt truy cập22,919,731
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây