
Anh chị em thân mến,
Khi Giáo hội tưởng nhớ hình ảnh ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận, Giáo hội không chỉ tưởng nhớ một chứng nhân vĩ đại của lịch sử gần đây, mà còn chiêm niệm một mẫu gương đích thực về đời sống Kitô giáo và đời sống linh mục. Cuộc đời ngài được đánh dấu bằng những thử thách rất khó khăn. Nhưng chính trong những thử thách đó, sự vĩ đại của đức tin của ngài được tỏ lộ. Khi mất tất cả, ngài đã đưa ra một lựa chọn mới và sâu sắc về Thiên Chúa: Chọn Thiên Chúa chứ không phải công việc của Chúa. Đó là một lựa chọn cơ bản cho mỗi linh mục. Ngài đã vượt qua mọi khó khăn, bởi vì ngài bám chặt vào Lời Chúa và luôn hướng mắt về Chúa Giêsu bị đóng đinh và bị bỏ rơi. Mỗi ngày ngày đều tìm thấy sức mạnh từ Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Khi ở trong tù, ngài bí mật cử hành thánh lễ với 3 giọt rượu và 1 giọt nước trong lòng bàn tay.
Cá nhân tôi đã có hồng phúc được biết ngài. Tôi nhớ đó là một con người hiền lành, thanh thản và tự do nội tâm. Ngài yêu thương cách sâu sắc các linh mục, có tấm lòng của một người cha, một người anh đối với họ. Đối với ngài, chức linh mục không chỉ đơn thuần là một sứ vụ mà còn là một ơn gọi cần được sống trong hiệp thông và tình huynh đệ. Tôi nhớ lòng nhiệt thành của ngài trong việc loan báo Tin Mừng cho càng nhiều người càng tốt. Ngài biết cách truyền giáo trong mọi hoàn cảnh, với sự nghiêm túc và sâu sắc, nhưng cũng với nghệ thuật – một chút hài hước – và tình yêu dành cho những điều nghịch lý. Điều đó chiếm được trái tim mọi người và thiết lập một mối quan hệ tự do, thân mật. Ví dụ tại một cuộc họp của các Hội đồng Giám mục Nam Mỹ khi ngài là Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, có trụ sở tại khu Trastevere của Roma, ngài đã tự giới thiệu mình như sau: Tôi là một tín hữu không thực hành đức tin, đến từ Giáo xứ Đức Mẹ Trastevere, và tôi cũng là một công dân châu Âu, đồng thời là một cựu tù nhân trải qua 13 năm trong tù. Những năm tháng đó tôi đã trải nghiệm lòng thương xót của Chúa trong sự yếu đuối của con người, những năm tháng tôi bị trừng phạt khắc nghiệt, đặc biệt về mặt tâm lý, vì lòng trung thành của tôi với chức vụ Giám mục và với Tòa Thánh.
Với những người lính canh, những người tò mò về cuộc đời và đức tin của ngài, ngài đã kể về những khuyết điểm của Chúa Giêsu, đó là tình yêu thương, lòng thương xót vô bờ bến và không thành kiến của Chúa. Bằng những đức tính nhân bản và sự chân thành, ngài đã trở thành bạn của họ. Mối quan hệ với họ trở nên sâu sắc đến nỗi, với sự giúp đỡ của họ, ngài đã có thể tạo ra cây thánh giá đeo ngực bằng gỗ và dây điện mà ngài đeo cho đến cuối cuộc đời. Một trong những người lính canh nhiều năm sau đó được Rửa tội đã kể lại: Gặp gỡ Giám mục Thuận là cuộc gặp gỡ quan trọng nhất trong cuộc đời tôi. Ngài đã dẫn dắt tôi trên con đường trở thành công dân của Nước Trời, một công dân của công lý và hòa bình.
Hôm nay tôi muốn chia sẻ với các bạn lời chứng của một trong những bạn tù Phật giáo của ngài: Ông Nguyễn Thanh Giàu, hiện đang sống ở California và là người đứng đầu tổ chức Phật giáo Hòa Hảo. Giáo sư Giàu kể lại: Tôi gặp Giám mục Thuận vào năm 1976 khi chúng tôi bị xích lại với nhau trên con tàu đưa chúng tôi lên phía bắc đến các trại cải tạo. Khi lên tàu chúng tôi phải đi qua nhiều trạm kiểm soát, và mỗi lần như vậy lính canh đều lấy đi một số đồ dùng cá nhân của chúng tôi. Nhiều người khóc trong giận dữ và tuyệt vọng. Nhưng Giám mục Thuận nói với chúng tôi: Chúng ta sẽ bị tước đoạt gần như mọi thứ, nhưng có một điều không ai có thể lấy đi được của chúng ta, đó là niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa, vào lòng tốt của Đấng Tạo Hóa. Chúng tôi bị nhồi nhét vào khoang tàu, hầu hết chúng tôi đều bị say sóng nặng. Giám mục Thuận đã chia sẻ với chúng tôi tất cả thuốc men mà gia đình đã gửi cho ông, không giữ lại gì cho mình. Trong trại cải tạo, chúng tôi phải lao động cưỡng bức, tôi yêu cầu ông [Thuận] lo việc nấu nướng và dọn dẹp trại, vì chúng tôi thấy ông rất ốm yếu. Chúng tôi phải dọn dẹp nhà vệ sinh di động mỗi ngày, chúng tôi không muốn ông ấy làm công việc vất vả này, nhưng ông ấy cứ khư khư nói: được tham gia vào cuộc sống với tất cả anh chị em chúng ta là một vinh dự đối với tôi. Lúc đó là mùa đông, nhiệt độ dưới 2 độ và chúng tôi không có đủ chăn, vì vậy Giám mục đã ra ngoài mỗi ngày nhiều lần nhặt những cành cây và củi mang về sưởi ấm cho trại ban đêm. Một ngày nọ, chiếc giỏ ông đội trên đầu nặng đến nỗi ông bị ngã ngửa, may mắn thay có người đã giúp đỡ và ông trở về trại trong tình trạng bị kiệt sức và thở hổn hển. Mỗi ngày ông đều động viên mọi người và hứa hẹn với chúng tôi một tương lai tốt đẹp hơn. Giáo sư Giàu kết luận: Tôi chỉ ở bên ông ấy vài tháng, nhưng tôi có thể làm chứng rằng ông ấy là người mà chúng tôi, theo người Phật giáo gọi, gọi ông là Bồ Tát, tức là một người rất thánh thiện. Nếu tôi ở lại với ông ấy lâu hơn, tôi đã có thể học được nhiều điều hơn nữa từ ông ấy. Tôi hy vọng rằng sẽ đến ngày Giám mục Thuận được tuyên thánh để mọi người thuộc mọi tôn giáo có thể tôn kính ông.
Và tôi xin kết luận: Tôi vô cùng xúc động trước cách Đức Hồng y Văn Thuận đã truyền bá Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta hãy cầu xin Chúa, nhờ lời cầu bàu của ngài, ban cho chúng ta là những linh mục được tôi luyện giống như ngài, bởi Lời Chúa, yêu mến Thánh Thể, trung thành trong những lúc thử thách, và là chứng nhân của niềm hy vọng.
Xin cám ơn mọi người.
Tác giả: Lê Văn Hùng HT69
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn