Vì sao con người ở lại, rời bỏ hoặc trở về với tôn giáo trong bối cảnh tâm linh đang thay đổi

Chủ nhật - 05/04/2026 21:27
Theo một phân tích toàn diện của Trung tâm Nghiên cứu Pew, dựa trên Nghiên cứu Bức tranh Tôn giáo quy mô lớn thực hiện giai đoạn 2023–2024 với 36.908 người tham gia, cùng một khảo sát tiếp theo với 8.937 người trưởng thành vào tháng 5 năm 2025, có 56% người Mỹ vẫn tự nhận thuộc về tôn giáo mà họ được nuôi dạy.

Photo: Reforma

Bên dưới những xu hướng thế tục hóa thường chiếm trang nhất là một thực tế nhiều sắc thái hơn: tuy hơn một phần ba người trưởng thành tại Hoa Kỳ đã rời bỏ tôn giáo của thời thơ ấu, nhưng đa số thì không. Dữ liệu mới nhất cho thấy sự liên tục vẫn nhiều hơn sự đứt gãy, nhưng các lý do cho cả hai ngày càng phức tạp, mang tính cá nhân và phản ánh những chuyển dịch văn hóa sâu xa.

Theo một phân tích toàn diện của Trung tâm Nghiên cứu Pew, dựa trên Nghiên cứu Bức tranh Tôn giáo quy mô lớn thực hiện giai đoạn 2023–2024 với 36.908 người tham gia, cùng một khảo sát tiếp theo với 8.937 người trưởng thành vào tháng 5 năm 2025, có 56% người Mỹ vẫn tự nhận thuộc về tôn giáo mà họ được nuôi dạy. Thêm 9% cho biết họ không có nền tảng giáo dục tôn giáo khi lớn lên và hiện cũng không gắn với bất cứ tôn giáo nào. Trái lại, 35% đã rời xa đức tin thời thơ ấu, hoặc theo một tôn giáo khác (10%), hoặc không còn nhận mình có tôn giáo (20%).

Thoạt nhìn, các con số này có thể gợi nên một câu chuyện suy giảm đơn tuyến. Nhưng khi xem xét kỹ, động lực thay đổi tôn giáo ở Hoa Kỳ ít liên quan đến sự sụp đổ của cơ chế định chế, mà liên quan nhiều hơn đến hệ niềm tin cá nhân hóa, sự chuyển dịch thẩm quyền, và những ưu tiên văn hóa đang biến đổi.

Đối với những người vẫn ở lại trong tôn giáo thời thơ ấu, các yếu tố quyết định chủ yếu mang tính nội tâm hơn là xã hội. Gần hai phần ba (64%) nói rằng họ tiếp tục tin vào giáo huấn của đức tin mình, 61% xác nhận tôn giáo ấy đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng, và 56% nói tôn giáo giúp đời họ có ý nghĩa. Đây không phải là những động lực bên lề, nhưng là sự gắn bó cá vị, đặt nền trên xác tín hơn là thói quen.

Các yếu tố bên ngoài, vốn thường được cho là trọng yếu, lại giữ vai trò thứ yếu. Chỉ 44% coi cộng đoàn là lý do quan trọng để ở lại; sự quen thuộc và truyền thống đều ở mức 39%. Ít hơn nữa (32%) nói họ ở lại vì sự phù hợp với các giáo huấn xã hội hay chính trị. Nói cách khác, sự bền vững của căn tính tôn giáo dường như ít do thừa hưởng văn hóa, mà nhiều do họ cảm thấy tôn giáo có giá trị hiện sinh.

Mô thức này đúng trong các nhóm Kitô giáo lớn, dù có khác biệt. Trong số người Tin Lành gắn bó suốt đời, niềm tin vào giáo lý nổi bật hơn, với 70% nêu đó là lý do chính để tiếp tục. Người Công giáo lại có hồ sơ cân bằng hơn: 54% nhấn mạnh sự nâng đỡ thiêng liêng, 53% nhấn mạnh niềm tin vào giáo huấn, và 47% nhấn mạnh ý nghĩa mà đức tin đem lại.

Người Do Thái lại cho thấy một mô hình khác của sự bền vững tôn giáo, ít đặt trọng tâm vào sự đồng thuận tín lý, và đặt nặng hơn việc thuộc về cộng đồng và văn hóa. Trong số những người được nuôi dạy Do Thái và vẫn giữ căn tính ấy, 60% nói họ trân trọng các truyền thống và 57% nêu lý do cộng đoàn. Khoảng một nửa nhắc đến gia sản gia đình hoặc sự quen thuộc. Điều này cho thấy trong một số truyền thống, căn tính có thể bền vững ngay cả khi niềm tin không phải là trung tâm, làm nổi bật tính đa diện của việc gắn bó tôn giáo.

Nếu lý do ở lại phần lớn là nội tâm, thì lý do rời bỏ cũng bộc lộ nhiều điều và thường là hình ảnh đối nghịch. Trong số những người rời tôn giáo thời thơ ấu, lý do phổ biến nhất là đánh mất niềm tin: 46% nói họ không còn chấp nhận các giáo huấn. Một tỷ lệ tương tự mô tả sự buông dần theo thời gian: 38% cho biết tôn giáo dần dần không còn quan trọng trong đời họ, và 38% nói họ từ từ rời xa.

Các yếu tố thuộc về định chế cũng có vai trò, nhưng ít mang tính quyết định. Khoảng một phần ba nêu sự bất đồng với giáo huấn tôn giáo về các vấn đề xã hội hay chính trị (34%) hoặc các vụ tai tiếng liên quan đến hàng giáo sĩ và lãnh đạo (32%). Những dữ kiện này cho thấy các tranh cãi có thể đẩy nhanh việc rời bỏ, nhưng hiếm khi là nguyên nhân chính; chúng thường củng cố những hoài nghi hoặc sự xa cách đã có sẵn.

Không phải mọi cuộc ra đi đều giống nhau. Những người cải đạo sang tôn giáo khác thường diễn tả sự chuyển đổi theo hướng bị thu hút hơn là phủ nhận. Gần một nửa (48%) nói họ cảm thấy được mời gọi đến với một đức tin mới, trong khi 45% cho biết tôn giáo trước đây không đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng của họ. Trái lại, những người trở thành “không tôn giáo” thường trình bày quyết định theo hướng tiêu cực hơn: 51% nêu sự không tin, và nhiều người nhấn mạnh sự thờ ơ hoặc sự tách dần theo thời gian.

Sự gia tăng của nhóm “không tôn giáo”, hiện chiếm 29% người trưởng thành ở Hoa Kỳ, là một trong những phát triển đáng kể nhất trong bức tranh tôn giáo tại đây. Tuy vậy, bức tranh này vẫn phức tạp hơn một câu chuyện thế tục hóa đơn giản. Có tới 78% người không tôn giáo cho rằng con người vẫn có thể sống đạo đức mà không cần tôn giáo; 64% tỏ ra hoài nghi đối với các giáo huấn tôn giáo; và 54% nói họ không cần tôn giáo để có đời sống thiêng liêng.

Sự thiếu tín nhiệm cũng nổi lên như một yếu tố quan trọng: một nửa cho biết họ có cái nhìn tiêu cực về các định chế tôn giáo, và 49% nói họ thiếu niềm tin vào các lãnh đạo tôn giáo. Dù vậy, trong nhóm này vẫn có một thiểu số duy trì sự mở ngỏ đối với niềm tin: khoảng 6% nói họ tin vào Thiên Chúa hoặc Kinh Thánh nhưng không thấy cần gắn bó với một tổ chức tôn giáo, cho thấy sự rút lui khỏi định chế không luôn đồng nghĩa với việc phủ nhận niềm tin cá nhân.

Vượt lên các động lực cá nhân, dữ liệu cũng cho thấy ảnh hưởng bền bỉ của việc được hình thành từ sớm. Việc được nuôi dạy trong môi trường tôn giáo là một trong những yếu tố dự báo mạnh nhất đối với căn tính khi trưởng thành. Trong số những người nhớ lại trải nghiệm tuổi thơ tôn giáo tích cực, 84% vẫn ở lại trong tôn giáo ban đầu. Ngược lại, trong số những người có trải nghiệm tiêu cực, 69% hiện tự nhận không tôn giáo.

Mức độ “đậm đặc” của đời sống đạo thời thơ ấu cũng quan trọng. Tỷ lệ giữ đạo lên tới 82% nơi những người lớn lên trong gia đình có mức sống đạo cao, nhưng giảm mạnh xuống 47% nơi những người đến từ môi trường tôn giáo tối thiểu. Những phát hiện này củng cố một nguyên tắc xã hội học quen thuộc: căn tính tôn giáo không chỉ được dạy bằng lời, nhưng còn được thể hiện bằng thực hành, bầu khí gia đình, và kinh nghiệm cảm xúc.

Các yếu tố nhân khẩu học và chính trị làm bức tranh thêm phức tạp. Khuynh hướng chính trị tương quan mạnh với việc giữ đạo: 73% người thuộc Đảng Cộng hòa hoặc nghiêng về Cộng hòa vẫn gắn bó với tôn giáo thời thơ ấu, so với 56% người thuộc Đảng Dân chủ hoặc nghiêng về Dân chủ. Tuổi tác cũng quyết định rõ rệt. Trong nhóm 65 tuổi trở lên, 74% giữ tôn giáo thời thơ ấu, trong khi ở nhóm dưới 30 tuổi, chỉ 55% làm như vậy. Người trẻ gần như có khả năng trở thành không tôn giáo cao gấp ba lần người cao tuổi (35% so với 13%).

Tỷ lệ giữ đạo cũng khác nhau đáng kể giữa các truyền thống tôn giáo. Những người được nuôi dạy trong Ấn giáo (82%), Hồi giáo (77%) và Do Thái giáo (76%) có mức liên tục cao nhất, trong khi nhóm Tin Lành giữ được 70%. Riêng Công giáo chỉ giữ được 57%, một con số được chú ý đặc biệt do vai trò trung tâm lịch sử của Giáo hội tại Hoa Kỳ. Mức giữ đạo còn thấp hơn nơi người Mặc Môn (54%) và Phật giáo (45%).

Đồng thời, thay đổi tôn giáo không chỉ diễn ra theo một chiều. Một tỷ lệ nhỏ nhưng đáng kể, 3% người Mỹ vốn không được nuôi dạy trong tôn giáo nào đã đón nhận một tôn giáo khi trưởng thành. Nói rộng hơn, 26% những người lớn lên không tôn giáo hiện lại tự nhận có tôn giáo, cho thấy ngay trong bối cảnh thế tục hóa, việc thuộc về tôn giáo vẫn là một chọn lựa khả dĩ và đôi khi hấp dẫn.

Thời điểm cũng là yếu tố quan trọng. Việc thay đổi tôn giáo thường xảy ra sớm: 85% những người thay đổi thực hiện trước tuổi 30, và gần một nửa (46%) chuyển đổi ngay trong thời thơ ấu hoặc tuổi vị thành niên. Những người từ bỏ tôn giáo hoàn toàn thường làm điều đó sớm hơn những người cải đạo sang tôn giáo khác, cho thấy việc “không tôn giáo” có thể gắn chặt hơn với những trải nghiệm mang tính hình thành.

Tổng hợp lại, các phát hiện này cho thấy một bối cảnh tôn giáo được định hình ít bởi những đứt gãy đột ngột và nhiều bởi sự tái cấu hình dần dần. Niềm tin, sự thuộc về và căn tính không còn được thừa hưởng theo cách đơn giản; chúng được thương lượng, lượng giá lại và thường được tái định hình theo thời gian.

Đối với các định chế tôn giáo, đặc biệt là những truyền thống như Giáo hội Công giáo vốn nhấn mạnh mạnh mẽ tính liên tục tín lý, các hàm ý là rất đáng kể. Dữ liệu cho thấy uy tín, tính liên quan đối với đời sống cá nhân và sự hình thành từ sớm mang tính quyết định hơn là di sản văn hóa. Trong một xã hội nơi con người ngày càng xem mình là tác giả của hành trình thiêng liêng riêng, thách đố không chỉ là giữ người ở lại, mà còn là thuyết phục họ rằng đức tin vẫn đáng tin về mặt lý trí, có ý nghĩa thiêng liêng và thực sự cần thiết cho đời sống hiện sinh.

Trường hợp Hoa Kỳ, thường được xem như dấu chỉ báo trước cho các xu hướng rộng hơn ở phương Tây, vì thế cho thấy một nghịch lý: tôn giáo vừa suy yếu như một cấu trúc xã hội, vừa tồn tại như một chọn lựa cá nhân. Hiểu được sự căng thẳng ấy có thể là chìa khóa để đọc ra tương lai của đức tin, không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở nhiều nơi khác.


Nguồn: https://zenit.org/2026/03/20/why-the-people-stay-leave-or-return-to-religion-in-a-changing-spiritual-landscape/

Bản dịch:
https://www.facebook.com/tintuc.giaohoi/posts/pfbid029EZD7NHxvvSam7JeqDveRHNw4NF97XdRbFKWfFZWu8hzqc8oaoPrWMnjg3Ra5X7il

Nguồn tin: zenit.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập205
  • Hôm nay798
  • Tháng hiện tại552,231
  • Tổng lượt truy cập101,680,434
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây