“Đường Hy Vọng” được viết trong đêm tối như thế nào? [Phần 1]

Thứ ba - 21/04/2026 22:04
Có những câu chuyện người ta nghe xong rồi để đó. Có những câu chuyện làm người ta cảm động một lúc rồi thôi. Nhưng cũng có những câu chuyện một khi đã đi vào tim rồi thì không còn cho phép ta sống hời hợt nữa. Câu chuyện về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và sự ra đời của “Đường Hy Vọng” là một câu chuyện như thế.
road of hope 2

Đây không phải chỉ là một biến cố đẹp của lịch sử Giáo Hội. Đây không chỉ là câu chuyện về một con người phi thường. Đây càng không phải chỉ là một kỷ niệm để kể lại cho cảm động. Đây là một tiếng chuông đánh thức lương tâm. Đây là một ánh lửa nhỏ được thắp lên giữa đêm rất dài. Đây là một lời chứng rằng trong tận cùng tối tăm, con người vẫn có thể chọn ánh sáng. Trong tận cùng mất mát, người môn đệ Chúa Kitô vẫn có thể sinh ra hoa trái. Trong tận cùng cô đơn, một tâm hồn vẫn có thể trở thành nơi Chúa hiện diện và làm việc.

Nhiều người đã từng nghe nói về “Đường Hy Vọng”. Có người đã đọc qua một vài câu. Có người biết đó là những dòng ngắn gọn được viết trong tù. Có người quý mến Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận từ lâu. Nhưng biết là một chuyện, còn để cho chứng từ ấy chạm vào linh hồn mình lại là chuyện khác. Và điều đáng sợ nhất trong đời sống đạo không phải là ghét bỏ điều thánh, nhưng là quá quen với điều thánh đến mức không còn run lên nữa. Quen đến độ điều lạ lùng trở thành bình thường. Quen đến độ không còn bàng hoàng trước ân sủng. Quen đến độ nghe một chứng từ lớn mà lòng vẫn không lay. Bởi vậy hôm nay, thay vì chỉ kể lại vài chi tiết, chúng ta hãy ngồi xuống thật lâu. Hãy ngồi như ngồi trước Nhà Tạm. Hãy ngồi như ngồi trước một ngọn nến trong đêm tĩnh tâm. Hãy ngồi như một người không chỉ muốn hiểu bằng trí, mà muốn được đụng vào bằng tim.

Và khi ngồi như thế, ta hãy thử bước vào căn phòng nhỏ ấy. Một căn phòng không rộng. Một căn phòng có bóng tối. Một căn phòng có sự ẩm thấp, có sự nặng nề của cô độc, có sự lặng thinh kéo dài như nuốt lấy cả thời gian. Không có gì huy hoàng. Không có gì của những trang sách đẹp. Không có diễn đàn. Không có tòa giảng. Không có cử tọa. Không có đoàn chiên đang ngồi chờ nghe. Chỉ có một con người bị tước mất tự do bề ngoài, một thân phận bị giam giữ, một tương lai mờ mịt, và trong cái nghèo tận cùng ấy, chỉ còn một tờ lịch cũ, một cây bút chì cùn, và một trái tim chưa chịu tắt lửa. Chính ở đó, “Đường Hy Vọng” bắt đầu.

Chúng ta phải dừng lại rất lâu trước hình ảnh này. Vì đó là một hình ảnh gần như biểu tượng cho toàn bộ linh đạo Kitô giáo. Thiên Chúa của chúng ta rất thường bắt đầu từ cái nghèo. Người không khởi sự ơn cứu độ từ cung điện nhưng từ máng cỏ. Người không chọn các quyền lực thời đại nhưng chọn những con người bé nhỏ. Người không cứu thế giới bằng sức mạnh phô trương, nhưng bằng thập giá. Và ở đây cũng vậy, Người không để một chứng từ lớn được sinh ra từ những điều kiện lý tưởng, nhưng từ bóng tối, từ thiếu thốn, từ cô đơn, từ thử thách. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là Thiên Chúa không lệ thuộc vào hoàn cảnh đẹp để làm nên điều đẹp. Chính trong hoàn cảnh xấu, Người lại càng tỏ quyền năng của tình yêu.

Nếu là chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ làm gì trong hoàn cảnh ấy? Có lẽ chúng ta sẽ than trách. Có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi tại sao đời mình lại ra nông nỗi này. Có lẽ chúng ta sẽ mang trong tim một cơn giận âm ỉ. Có lẽ chúng ta sẽ nhớ tiếc cái mình đã mất đến nỗi không còn thấy cái mình đang có. Có lẽ chúng ta sẽ dần dần để cho nỗi buồn trở thành khí hậu thường trực của linh hồn. Có lẽ chúng ta sẽ chấp nhận sống cầm chừng. Có lẽ chúng ta sẽ nằm im mà chờ một phép lạ từ bên ngoài. Nhưng ở đây, Đức Hồng y Thuận đã chọn một con đường khác. Ngài không phủ nhận đau khổ. Ngài không giả vờ mình không đau. Ngài không sống như một anh hùng sân khấu. Ngài sống như một môn đệ thật. Và môn đệ thật là người ngay trong bóng tối vẫn tìm xem hôm nay còn có thể yêu Chúa bằng cách nào.

Đó là chỗ khiến câu chuyện này làm ta phải quỳ lòng xuống để suy nghĩ. Tại sao giữa bóng tối, ngài lại nghĩ đến việc viết? Tại sao giữa lúc chính mình bị tước mất rất nhiều, ngài lại không khép lại, mà lại mở ra? Tại sao giữa một hoàn cảnh đáng lẽ chỉ khiến người ta thu mình lại trong đau đớn, ngài lại nghĩ đến việc để lại ánh sáng cho người khác? Bởi vì nơi ngài, đời sống Kitô hữu không phải chỉ là cố sống sót. Đời sống Kitô hữu là làm cho tình yêu còn tiếp tục chảy, dù qua một khe nhỏ nhất. Ngài viết không phải vì có dư điều kiện. Ngài viết vì trong lòng ngài còn lửa. Ngài viết vì ngài biết rằng nếu không giữ lửa, linh hồn sẽ chết trước khi thân xác được giải thoát. Ngài viết vì ngài hiểu rằng có những lúc điều quan trọng nhất không phải là thoát khỏi bóng tối ngay, mà là không để bóng tối đi vào tim mình.

Đây chính là điều đầu tiên mà “Đường Hy Vọng” dạy chúng ta: nhà tù đáng sợ nhất không phải luôn là nhà tù bằng sắt thép. Nhà tù đáng sợ nhất nhiều khi là nhà tù bên trong. Có những người vẫn đi lại bình thường, nhưng trong lòng bị nhốt trong một vết thương cũ. Có những người vẫn nói cười, nhưng bị khóa chặt trong một nỗi cay đắng không buông ra được. Có những người không hề bị giam giữ bên ngoài, nhưng linh hồn đã bị giam trong sự thất vọng, trong mặc cảm, trong tự ái, trong nỗi giận, trong cái nhìn tiêu cực, trong cảm giác mình bị đời đối xử bất công, trong sự khô khan cầu nguyện, trong sự kiệt sức thiêng liêng. Nhiều người sống giữa gia đình mà như bị nhốt. Nhiều người sống giữa cộng đoàn mà như không còn thở được. Nhiều người đi lễ đều, đọc kinh đều, nhưng sâu bên trong lại bị giam trong một câu nói từ nhiều năm trước, trong một biến cố không thể quên, trong một vết thương không chịu để Chúa chạm đến.

Vậy nên, khi suy niệm về “Đường Hy Vọng”, ta không đứng ngoài để ngắm một người tù năm xưa. Ta phải để câu chuyện ấy quay ngược lại mà hỏi chính mình: tôi đang bị nhốt ở đâu? Tôi đang sống trong buồng tối nào? Tôi bị khóa bởi điều gì? Có người bị khóa trong nỗi lo cơm áo. Có người bị khóa trong một cuộc hôn nhân lạnh. Có người bị khóa trong sự mệt mỏi vì con cái xa Chúa. Có người bị khóa trong mặc cảm tội lỗi. Có người bị khóa trong ý nghĩ rằng đời mình chẳng còn ích gì nữa. Có người bị khóa trong thói quen trì hoãn việc lành. Có người bị khóa trong cơn nghiện điện thoại, mạng xã hội, giải trí, sự phân tâm, khiến tâm hồn không còn chỗ trống cho Chúa. Có người bị khóa trong thứ đạo đức bề ngoài mà bên trong không còn ngọn lửa yêu mến. Và có lẽ nguy hiểm hơn cả là có những người đã quen sống trong nhà tù nội tâm đến mức không còn nghĩ mình cần được giải thoát nữa.

Nhưng Đức Hồng y Thuận không chấp nhận điều đó. Ngài bị tước tự do bên ngoài, nhưng không trao tự do bên trong cho bóng tối. Đây là chiến thắng lớn nhất của ngài. Và cũng là điều đẹp nhất nơi chứng từ của ngài. Thắng một hoàn cảnh chưa đủ. Thắng được cách mình phản ứng trước hoàn cảnh mới là chiến thắng thật. Người đời nhiều khi chỉ nhìn đau khổ như điều phải tránh. Nhưng người Kitô hữu, khi kết hợp với Chúa Kitô, còn có thể biến đau khổ thành nơi gặp Chúa. Không phải bằng cách yêu đau khổ vì nó là đau khổ. Nhưng bằng cách để Chúa bước vào đó và đổi nó thành nơi sinh trái.

Chính ở đây, ta bắt đầu hiểu tại sao “Đường Hy Vọng” không phải chỉ là một cuốn sách đạo đức. Nó là một chương trình sống. Nó dạy ta ba điều lớn: hy vọng, hiện tại, và tự do nội tâm. Ba điều này gắn chặt với nhau. Không có hy vọng, linh hồn sẽ tắt. Không biết sống hiện tại, linh hồn sẽ cứ hẹn Chúa đến vô tận mà không bao giờ thực sự bắt đầu. Không có tự do nội tâm, linh hồn sẽ luôn bị hoàn cảnh kéo lê và làm chủ. Bởi thế, khi ngài viết, ngài không chỉ viết vài câu cho đỡ buồn. Ngài đang chiến đấu cho sự sống của linh hồn. Ngài đang thắp lửa giữa đêm. Ngài đang bảo vệ khoảng tự do sâu nhất mà không bạo lực nào chạm tới được. Ngài đang minh chứng rằng người ta có thể lấy đi nhiều thứ, nhưng không thể lấy mất một trái tim hoàn toàn thuộc về Chúa.

Trước hết, ngài viết để thắp hy vọng. Chúng ta thường dùng chữ hy vọng quá nhẹ. Ta nói hy vọng như nói một mong ước xã giao. Ta nói hy vọng như một chút lạc quan. Nhưng trong đời sống Kitô giáo, hy vọng là một nhân đức. Hy vọng là một sức mạnh đặt nền trên chính Thiên Chúa. Hy vọng không phải là tưởng tượng rằng mọi sự sẽ dễ dàng. Hy vọng không phải là tự ru ngủ mình bằng những viễn cảnh đẹp. Hy vọng không phải là không còn đau. Hy vọng không phải là không còn nước mắt. Hy vọng không phải là nụ cười ép buộc trên khuôn mặt mệt mỏi. Hy vọng là trong lúc chưa thấy đường, vẫn tin rằng Chúa đang có đường. Hy vọng là trong khi chưa hiểu, vẫn không quay lưng với Chúa. Hy vọng là khi chưa được giải thoát, vẫn từ chối tuyên bố rằng đêm tối là tiếng nói cuối cùng.

Ma quỷ hiểu rất rõ điều này, nên nó thường đánh vào hy vọng. Nó không cần lúc nào cũng dẫn người ta tới những sa ngã quá lộ liễu. Nhiều khi chỉ cần làm cho người ta nản. Chỉ cần làm cho người ta nghĩ rằng không cần cố nữa. Chỉ cần thì thầm vào tai một người mẹ rằng con chị chắc không bao giờ trở lại. Chỉ cần nói với một người đang chiến đấu với tội quen rằng anh chẳng bao giờ thay đổi được. Chỉ cần làm cho một linh mục mệt mỏi nghĩ rằng công việc mục vụ này vô ích. Chỉ cần làm cho một gia đình nghĩ rằng mình chẳng còn cơ hội hàn gắn. Chỉ cần làm cho một người già bệnh nghĩ rằng đời mình giờ chỉ là gánh nặng. Chỉ cần làm cho một người cầu nguyện lâu năm nghĩ rằng Chúa đã im lặng với mình. Chỉ cần thế thôi, linh hồn bắt đầu ngạt thở.

Đức Hồng y Thuận viết để chống lại cái chết âm thầm ấy. Mỗi câu ngắn như một que diêm. Một que diêm không làm sáng cả bầu trời, nhưng đủ để người ta không hoảng loạn trong đêm. Một que diêm không đốt cháy mùa đông, nhưng đủ cho ta biết rằng lửa chưa chết. Có lẽ nhiều người trong chúng ta muốn Chúa cho mình mặt trời ngay, cho lời giải ngay, cho sự thay đổi ngay, cho cơn đau kết thúc ngay. Nhưng Chúa nhiều khi chỉ cho một que diêm. Chỉ đủ sáng cho một bước. Chỉ đủ để hôm nay không tuyệt vọng. Chỉ đủ để đêm nay còn cầu nguyện. Chỉ đủ để ngày mai còn đứng lên. Và đó là cách Chúa dạy ta đi trong đức tin. Nếu ta thấy hết thì đâu còn là tin. Đức tin là bước đi trong thứ ánh sáng vừa đủ để khỏi ngã, chứ không phải đủ để khỏi cần bám lấy Chúa.

Điều này rất gần với kinh nghiệm của bao người trong cộng đoàn. Một người mẹ có đứa con đi xa đức tin nhiều năm không thể nhìn thấy ngày trở về. Nhưng bà có thể thắp hy vọng bằng một kinh Kính Mừng mỗi tối. Một người vợ đang sống trong bầu khí lạnh lẽo của gia đình không thể đổi mọi sự chỉ trong vài ngày. Nhưng chị có thể thắp hy vọng bằng một lời nói bớt gai góc, một lần im lặng cầu nguyện thay vì phản ứng nóng nảy. Một người trẻ đang chìm trong khủng hoảng không thể ngay lập tức tìm được lối ra. Nhưng bạn ấy có thể thắp hy vọng bằng việc quay lại ngồi trước Thánh Thể mười phút. Một người đang chán nản vì mình ngã đi ngã lại trong cùng một tội vẫn có thể thắp hy vọng bằng việc quyết đi xưng tội thêm một lần nữa. Hy vọng là như thế. Không nhất thiết luôn là điều vĩ đại. Nhưng là điều thật. Làm cho ta không chết chìm.

Điều thứ hai, “Đường Hy Vọng” dạy ta sống hiện tại như nơi nên thánh. Đây là một trong những nét đẹp nhất trong linh đạo của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Nhiều người tưởng nên thánh là làm những chuyện phi thường, là chờ một thời điểm đặc biệt, là sống trong một môi trường thuận lợi, là có nhiều thời giờ, nhiều phương tiện, nhiều hứng khởi. Nhưng ngài dạy rằng nên thánh là sống trọn vẹn giây phút hiện tại với tình yêu. Nên thánh là không hoãn điều tốt. Nên thánh là làm việc nhỏ với lòng mến lớn. Nên thánh là không chờ ngày mai để yêu Chúa.

Đây là chỗ chạm rất mạnh vào chúng ta, vì một trong những cám dỗ thường xuyên nhất của đời sống thiêng liêng là trì hoãn. Không phải lúc nào ta cũng muốn làm điều xấu. Nhiều khi ta chỉ cứ hẹn điều tốt lại mãi. Khi nào rảnh hơn con sẽ cầu nguyện. Khi nào bớt áp lực con sẽ đi xưng tội. Khi nào hết bận con sẽ đọc Kinh Thánh. Khi nào gia đình ổn hơn con sẽ bớt nóng nảy. Khi nào con khá hơn con sẽ phục vụ. Khi nào về hưu con sẽ sốt sắng. Khi nào hết khô khan con mới ngồi với Chúa. Nhưng Chúa không đến với ta trong cái “khi nào” tưởng tượng. Chúa chỉ đến trong hôm nay. Mà hôm nay thì thường rất không hoàn hảo. Hôm nay bận. Hôm nay mệt. Hôm nay rối. Hôm nay nhiều giới hạn. Hôm nay mang đầy thương tích. Nhưng chính hôm nay lại là nơi Thiên Chúa đặt ân sủng.

Đức Hồng y Thuận không nói rằng đợi ra tù rồi mình mới nên thánh. Ngài nên thánh trong tù. Ngài không treo tình yêu đối với Chúa vào một ngày tương lai đẹp hơn. Ngài yêu Chúa trong hoàn cảnh không đẹp. Đây là điều cực kỳ quan trọng cho mọi bậc sống. Một người mẹ nội trợ không phải chờ hết bếp núc, con cái, mệt nhọc mới nên thánh. Chính khi làm những việc ấy với lòng mến, với bình an, với sự âm thầm dâng lên Chúa, người ấy đang nên thánh. Một người lao động không phải đợi đổi nghề mới sống đẹp. Chính trong mồ hôi, trong trung thực, trong nhẫn nại, trong việc không gian dối, người ấy đang nên thánh. Một linh mục không phải chờ giáo xứ thuận lợi, giáo dân dễ thương, sức khỏe tốt hơn mới trung tín. Chính trong mệt mỏi, trong hiểu lầm, trong áp lực, mà vẫn giữ giờ cầu nguyện, vẫn dâng lễ với tình yêu, vẫn thương đoàn chiên, đó là nên thánh. Một người già không phải chờ hết đau bệnh mới sống đẹp. Chính lúc đau mà không để đau biến mình thành cay đắng, đó là nên thánh.

Nên thánh không phải là chuyện của những khoảnh khắc huy hoàng. Nên thánh là chuyện của từng ngày bình thường được sống một cách phi thường trong tình yêu. Và “Đường Hy Vọng” chính là con đường dẫn vào thứ nên thánh ấy. Nó không ồn ào, không kịch tính theo kiểu của người đời, nhưng nó bền, thật và sâu. Nó là thứ thánh thiện được dệt bằng từng phút. Từng phút không đầu hàng nản chí. Từng phút không chấp nhận để mình chìm trong tự thương hại. Từng phút không ngưng nói chuyện với Chúa. Từng phút không ngưng yêu. Từng phút không ngưng tín thác.

Điều thứ ba, ngài viết để minh chứng rằng tự do nội tâm không ai cướp được. Đây có lẽ là một trong những chân lý đẹp nhất mà chứng từ của ngài để lại cho chúng ta. Thân xác có thể bị giam, nhưng tâm hồn vẫn có thể tự do. Đây không phải là câu nói đẹp cho có. Đây là một sự thật được sống bằng giá rất đắt. Tự do nội tâm là gì? Là khi hoàn cảnh không còn là ông chủ tối hậu của linh hồn mình. Không phải là hoàn cảnh không ảnh hưởng. Không phải là đau khổ không làm mình đau. Nhưng nó không quyết định bản sắc sâu nhất của mình nữa. Người tự do nội tâm vẫn khóc, nhưng không bị nước mắt dẫn đến tuyệt vọng. Vẫn bị hiểu lầm, nhưng không để hiểu lầm làm mình thành cay nghiệt. Vẫn mang thương tích, nhưng không lấy thương tích làm căn tính. Vẫn bị xúc phạm, nhưng không để nỗi bị xúc phạm ngồi lên ngai lòng mình.

Biết bao người ngày nay bị mất tự do nội tâm. Có người bị nhốt trong nhu cầu phải được công nhận. Có người bị nhốt trong cơn giận kéo dài nhiều năm. Có người bị nhốt trong mặc cảm thất bại. Có người bị nhốt trong sợ hãi dư luận. Có người bị nhốt trong cái tôi quá lớn. Có người bị nhốt trong thói quen trách móc. Có người bị nhốt trong một biến cố đau thương đã qua từ lâu nhưng vẫn sống như thể nó đang định nghĩa trọn đời mình. Có người bị nhốt trong câu: “Tôi không thể tha thứ.” Có người bị nhốt trong thứ buồn chán tinh thần không chịu đem ra ánh sáng của Chúa. Mà khi không có tự do nội tâm, ta sống như một người luôn bị kéo lê.

Đức Hồng y Thuận cho thấy có một thứ tự do sâu hơn mọi hàng rào. Đó là tự do tha thứ. Tự do tín thác. Tự do không lấy bản thân mình làm trung tâm tuyệt đối. Tự do chọn yêu thay vì oán. Tự do chọn bình an thay vì để hoàn cảnh nhào nặn tâm tính. Tự do không biến đau khổ thành cớ để chống lại tình yêu. Đây là một tự do rất khó, nhưng cũng rất đẹp. Và chính vì ngài có tự do ấy, “Đường Hy Vọng” không biến thành một bản kể lể bi thương. Nó trở thành lời chứng. Ngài không viết để than thân. Ngài viết để cho thấy hy vọng không chết. Ngài không lấy đau khổ của mình làm trung tâm. Trung tâm vẫn là Chúa. Và khi Chúa vẫn là trung tâm, bóng tối không còn quyền xưng vương.

Một chi tiết rất cảm động của toàn bộ câu chuyện là cách ngài viết. Không phải với những phương tiện tử tế. Không phải trên bàn làm việc đàng hoàng. Không phải bằng những điều kiện thuận tiện. Nhưng bằng mặt sau của các tờ lịch cũ, bằng chữ nhỏ, bằng những khoảng trống tận dụng được, bằng sự canh chừng từng lúc, bằng một cây bút chì cùn. Chỉ riêng điều ấy thôi cũng đã là một bài giảng. Nó cho thấy Thiên Chúa không đợi ta đầy đủ rồi mới dùng ta. Người có thể bắt đầu từ những gì người đời bỏ đi. Một tờ lịch cũ có thể thành nơi gieo hạt giống Nước Trời. Một cây bút chì cùn có thể thành khí cụ loan báo Tin Mừng. Một xà lim có thể thành phòng học của hy vọng. Một bàn tay bị trói buộc vẫn có thể cộng tác với ơn Chúa để giải thoát bao linh hồn.

Bao lần chúng ta nói mình không làm được điều tốt vì thiếu điều kiện. Không có thời giờ. Không có phương tiện. Không có cơ hội. Không có sức khỏe. Không có môi trường thuận lợi. Không có người hỗ trợ. Nhưng “Đường Hy Vọng” dạy ta rằng nhiều khi cái thiếu không phải là điều kiện, mà là lửa yêu. Người không yêu thì cái gì cũng thành lý do để ngừng. Người yêu thì cái gì cũng có thể trở thành phương tiện để tiếp tục. Không có giấy đẹp thì dùng lịch cũ. Không có ánh sáng tốt thì tranh thủ lúc có thể. Không có cách phổ biến công khai thì âm thầm chuyển ra ngoài. Tình yêu tìm được đường. Không ồn ào, không khoe khoang, nhưng bền bỉ. Đó là logic của Tin Mừng. Đó cũng là logic của mọi ơn gọi thật.

Và ở đây ta còn học thêm một bài học nữa: việc lớn thường được làm bằng sự trung thành rất nhỏ. “Đường Hy Vọng” không xuất hiện chỉ bằng một khoảnh khắc bùng cháy. Nó là kết quả của từng mảnh, từng chữ, từng đêm, từng lần kiên trì. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Không ai nên thánh bằng một lần xúc động. Người ta nên thánh bằng từng ngày. Không ai giữ được một gia đình chỉ bằng lời hứa hôm cưới. Người ta giữ gia đình bằng những nhẫn nhịn nhỏ, những tha thứ nhỏ, những hy sinh không tên. Không ai xây một giáo xứ chỉ bằng vài sự kiện lớn. Giáo xứ được nâng đỡ bằng từng Thánh Lễ, từng giờ chầu, từng lần thăm người đau, từng người lau nhà thờ, từng người tập hát, từng người âm thầm lần chuỗi cho cộng đoàn. Điều lớn của Hội Thánh rất thường được chống đỡ bằng những trung tín rất nhỏ mà thế gian không chú ý.

Càng đi sâu, chúng ta càng không thể không chạm đến trung tâm của tất cả: Thánh Thể. Nếu không có Thánh Thể, “Đường Hy Vọng” có thể bị người ta hiểu như nỗ lực phi thường của một con người mạnh mẽ. Nhưng với Thánh Thể ở trung tâm, mọi sự đổi khác. Khi Đức Hồng y Thuận cử hành và sống với Chúa Giêsu Thánh Thể trong tù, phòng giam không còn chỉ là phòng giam. Nó trở thành nơi hiện diện của Mầu nhiệm Vượt Qua. Nó trở thành nơi Chúa Kitô đau khổ và phục sinh đi vào nỗi đau của một người môn đệ. Nó trở thành nơi mà tình yêu không còn là ý chí của con người nữa, nhưng là ân sủng đến từ chính Chúa.

Đây là điểm làm chúng ta phải xét lại tình yêu của mình với Thánh Thể. Bao lần ta đi lễ như một bổn phận? Bao lần ta rước lễ mà lòng không chuẩn bị? Bao lần ta coi nhà thờ là nơi quen thuộc hơn là nơi được gặp Đấng Sống? Bao lần ta quá no với thông tin, với điện thoại, với giải trí, với công việc, với lo âu, đến nỗi không còn đói Chúa? Nhưng khi nhìn một vị mục tử trong ngục tối vẫn nâng niu từng giọt rượu, từng chút bánh, vẫn sống cơn đói Thánh Thể như trung tâm của hy vọng, ta mới thấy mình có thể đang sống giữa quá nhiều thuận tiện mà lại quá nghèo tình yêu.

Một người no tiếng ồn sẽ không còn khát thinh lặng. Một người no mạng xã hội sẽ khó thấy cần giờ chầu. Một người no với cái tôi sẽ khó sống Thánh Ý Chúa. Một người no với chuyện đời sẽ khó rung lên trước mầu nhiệm bàn thờ. Và đó chính là lý do nhiều tâm hồn hôm nay mệt. Không hẳn vì công việc quá nhiều, nhưng vì nguồn nuôi sai. Ta lấy những thứ không thể cứu linh hồn để thay chỗ cho Đấng duy nhất có thể cứu linh hồn. Đức Hồng y Thuận nhắc ta rằng nếu còn Chúa, ta vẫn còn cốt lõi. Nếu mất Chúa, dù bên ngoài còn nhiều, bên trong vẫn nghèo.

Một nét đẹp khác của câu chuyện này là tính Hội Thánh. Những mảnh viết ấy không chỉ do một mình ngài. Có những bàn tay khác âm thầm giữ lại, chép lại, chuyển đi. Điều đó nói lên rằng ánh sáng trong Hội Thánh thường lan nhờ những con người nhỏ bé và kín đáo. Có người viết. Có người gìn giữ. Có người chuyển trao. Có người sao chép. Có người đọc. Có người sống lại điều mình đọc. Không ai vô ích trong nhiệm thể Chúa Kitô. Một người âm thầm cầu nguyện cho cha xứ cũng đang góp phần vào sức sống giáo xứ. Một bà cụ lần chuỗi cho con cháu cũng đang nâng đỡ Hội Thánh. Một người cha lặng lẽ dẫn con đi lễ cũng đang chép tiếp “Đường Hy Vọng.” Một ca viên tập hát sốt sắng, một giáo lý viên chuẩn bị bài kỹ, một người đi thăm bệnh, một người giữ bình an trong lúc có va chạm, tất cả họ đang viết tiếp con đường ấy mà có khi chính họ không biết.

Cộng đoàn thân mến, càng suy niệm, ta càng thấy “Đường Hy Vọng” không phải chỉ trả lời câu hỏi: làm sao một cuốn sách được viết ra trong tù? Nó trả lời câu hỏi lớn hơn: làm sao một linh hồn có thể không tắt trong đêm? Làm sao một trái tim có thể không hóa đá giữa bất công? Làm sao một con người có thể không cay đắng khi bị tước mất nhiều điều? Làm sao vẫn yêu được? Làm sao vẫn bình an được? Làm sao vẫn nói lời hy vọng được? Câu trả lời sau cùng chỉ có một: bởi vì Chúa vẫn ở đó. Khi mọi sự bị lấy đi, Chúa vẫn ở đó. Khi không còn gì chắc chắn bên ngoài, Chúa vẫn ở đó. Khi người ta không hiểu mình, Chúa vẫn ở đó. Khi đêm kéo dài, Chúa vẫn ở đó. Và khi Chúa còn đó, thì hy vọng còn đó.

Đó cũng là điều hôm nay mỗi người chúng ta cần nghe lại. Có thể cha đang mệt vì sứ vụ. Có thể một người mẹ đang khóc vì con. Có thể một người chồng đang nặng lòng vì gia đình. Có thể một người trẻ đang mất phương hướng. Có thể một người già đang đối diện với sự vô dụng và cô đơn. Có thể một người đang mang trong mình căn bệnh kéo dài. Có thể một người đi lễ đều nhưng lòng rất khô. Có thể một người bị thương tích vì những va chạm trong cộng đoàn. Có thể một người đang sống trong đêm tối mà chẳng ai biết. Nhưng nếu hôm nay chúng ta nghe được điều này, thì xin hãy nghe thật sâu: Chúa vẫn ở đó. Trong căn phòng bệnh. Trong căn bếp chật. Trong nhà có tiếng cãi nhau. Trong nỗi sợ tương lai. Trong đêm mất ngủ. Trong linh hồn khô hạn. Trong tuổi già run rẩy. Trong giáo xứ có thử thách. Trong tất cả, Chúa vẫn ở đó.

Và nếu Chúa vẫn ở đó, thì câu hỏi kế tiếp không phải là: khi nào bóng tối chấm dứt? Nhưng là: hôm nay, tôi sẽ viết một dòng hy vọng bằng gì? Tôi sẽ bắt đầu lại từ đâu? Tôi có thể dùng “tờ lịch cũ” nào của đời mình? Tôi có thể dùng “cây bút chì cùn” nào của đời mình? Có thể đó là một lời xin lỗi. Có thể đó là một lần đi xưng tội. Có thể đó là năm phút ngồi lại với Chúa. Có thể đó là quyết định bớt nói nặng. Có thể đó là ngưng than phiền một ngày. Có thể đó là gọi điện hỏi thăm người mình đã quên. Có thể đó là dâng đau bệnh của mình cách bình an hơn. Có thể đó là bớt nuôi trong tim một cơn giận cũ. Có thể đó là tập lại lòng biết ơn. Có thể đó là quay lại với Thánh Lễ bằng một tâm hồn tỉnh thức hơn.

Đừng khinh điều nhỏ. “Đường Hy Vọng” không bắt đầu bằng một đại công trình. Nó bắt đầu bằng một mảnh giấy nhỏ trong phòng giam. Bao công trình của Chúa trong đời ta cũng vậy. Người không đòi ta làm điều chấn động. Người chỉ xin ta trung tín trong điều nhỏ. Và chính từ điều nhỏ được làm bằng tình yêu ấy, Thiên Chúa viết nên những điều mà nhiều năm sau người ta mới hiểu hết.

Ước gì hôm nay, khi nghe lại câu chuyện này, chúng ta không chỉ cảm phục Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, nhưng còn để chứng từ ấy chất vấn mình. Tôi có đang sống như người chỉ chờ hoàn cảnh đẹp mới yêu Chúa không? Tôi có đang trì hoãn việc nên thánh không? Tôi có đang để mình bị nhốt trong oán giận, buồn chán hay thất vọng không? Tôi có còn đói Thánh Thể không? Tôi có còn tin rằng Chúa có thể viết điều lớn từ những mảnh vụn đời tôi không? Tôi có dám bắt đầu lại từ điều nhỏ nhất hôm nay không?

Nếu chúng ta dám trả lời những câu hỏi ấy bằng đời sống, thì thật ra “Đường Hy Vọng” chưa bao giờ khép lại. Nó vẫn đang được viết tiếp. Trong giáo xứ. Trong gia đình. Trong nhà dòng. Trong tuổi trẻ. Trong tuổi già. Trong bệnh viện. Trong những căn phòng có nước mắt. Trong những tâm hồn đang chiến đấu. Trong những con người âm thầm mà trung tín. Và biết đâu một ngày nào đó, khi nhìn lại, người ta sẽ không nói rằng đời chúng ta đã làm được gì lớn lao, nhưng sẽ nói điều này: người ấy đã không để đêm tối thắng. Người ấy đã giữ được lửa. Người ấy đã bám lấy Chúa. Người ấy đã yêu trong điều nhỏ. Người ấy đã không đầu hàng tuyệt vọng. Người ấy đã sống một con đường hy vọng cho người khác.

Có một điều rất lạ trong hành trình thiêng liêng của con người, đó là nhiều khi ta chỉ bắt đầu hiểu ánh sáng là gì khi đã đi qua một quãng rất dài của bóng tối. Khi đang ở giữa ban ngày, người ta ít nghĩ về ánh sáng. Người ta dùng ánh sáng, quen với ánh sáng, sống trong ánh sáng mà không hề thấy đó là một ân huệ. Nhưng khi màn đêm phủ xuống, khi trước mặt chỉ còn mờ mịt, khi tay quờ quạng mà không chạm được gì chắc chắn, khi lòng bắt đầu hoang mang vì không biết đường nào là lối ra, chính lúc ấy người ta mới hiểu một tia sáng nhỏ quý đến chừng nào. Chỉ một tia sáng thôi cũng đủ làm lòng bớt sợ. Chỉ một tia sáng thôi cũng đủ nói với con người rằng bóng tối chưa thắng. Chỉ một tia sáng thôi cũng đủ cứu một đêm dài khỏi biến thành tuyệt vọng.

“Đường Hy Vọng” đã được viết ra như một tia sáng như thế.

Nhưng nếu chỉ gọi đó là một tia sáng thì vẫn còn chưa đủ. Vì đây không phải là thứ ánh sáng đến từ bên ngoài chiếu vào một con người đang ngồi đó. Đây là thứ ánh sáng được thắp lên từ một linh hồn đã để cho Chúa ngự trị thật sâu. Đây là thứ ánh sáng bừng ra từ một trái tim bị ép giữa đêm tối mà không vỡ thành cay đắng, trái lại lại nở ra thành lời cầu nguyện, thành xác tín, thành lời nhắn gửi cho người khác. Điều ấy khiến chúng ta không thể chỉ dừng lại ở mức cảm phục một nhân vật lớn. Chúng ta phải đi xa hơn: phải tự hỏi bằng cách nào một con người có thể không bị bóng tối nghiền nát. Bằng cách nào trong cảnh bị tước đoạt, người ta vẫn có thể sinh ra sự sống. Bằng cách nào từ một căn buồng hẹp lại có thể đi ra một con đường đủ sức nâng biết bao linh hồn qua nhiều thế hệ.

Có lẽ câu trả lời không nằm ở sức mạnh ý chí đơn thuần. Nếu chỉ là ý chí, người ta có thể cứng cỏi một thời gian, rồi cũng sẽ mỏi mệt. Nếu chỉ là nghị lực, người ta có thể chống đỡ một lúc, rồi cũng có ngày kiệt quệ. Nếu chỉ là phẩm chất tâm lý mạnh mẽ, thì một biến cố quá dài, quá khắc nghiệt, quá không lối thoát, sớm muộn cũng sẽ làm lòng người xơ xác. Nhưng ở đây, nơi Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, ta không gặp một sự cứng cỏi của người quyết sống cho ra vẻ anh hùng. Ta gặp một điều lớn hơn nhiều: đó là một sự cắm rễ vào Thiên Chúa. Chính vì cắm rễ vào Thiên Chúa, nên dù gió bão có đến, cây vẫn không bật gốc. Chính vì linh hồn ấy đã thuộc về Chúa quá sâu, nên khi mọi nâng đỡ bên ngoài bị rút đi, ngài vẫn còn Đấng duy nhất không ai lấy mất được.

Và chính đây là điểm mà người thời nay cần nghe hơn bao giờ hết.

Chúng ta đang sống trong một thời đại có quá nhiều thứ để bám víu nhưng lại quá ít điều để thật sự đặt nền đời mình lên. Người ta bám vào tiện nghi, nhưng tiện nghi có thể mất. Người ta bám vào sức khỏe, nhưng sức khỏe có thể suy. Người ta bám vào nghề nghiệp, nhưng công việc có thể đổi thay. Người ta bám vào tình cảm con người, nhưng lòng người rất mong manh. Người ta bám vào danh dự, vào hình ảnh, vào chỗ đứng, vào thành công, vào mạng lưới quan hệ, vào những điều làm mình cảm thấy có giá trị. Nhưng khi những điều ấy lung lay, người ta thường ngã theo. Bởi vì cái nền không đủ sâu. Đời sống thiêng liêng của nhiều người hôm nay cũng thế. Không phải là họ không có đạo. Có khi họ vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn tham gia sinh hoạt. Nhưng nền thật của linh hồn chưa chắc đã là Chúa. Có khi nền thật lại là sự thuận lợi. Nền thật là việc mọi sự diễn ra như mình muốn. Nền thật là việc người khác đối xử đẹp với mình. Nền thật là việc gia đình êm ấm. Nền thật là việc mình còn cảm thấy sốt sắng. Và vì vậy, chỉ cần hoàn cảnh đổi khác, họ bắt đầu chao đảo.

Đức Hồng y Thuận làm cho ta hiểu rằng người chỉ thật sự tự do là người đã đặt nền trên Đấng không đổi thay. Khi ấy, hoàn cảnh vẫn làm đau, nhưng không quật đổ được. Bị mất mát vẫn đau. Bị chia lìa vẫn đau. Bị hiểu lầm vẫn đau. Bị nhốt trong cô độc vẫn đau. Nhưng nỗi đau ấy không có quyền đổi chủ đời mình nữa. Đời mình vẫn thuộc về Chúa. Và khi một con người sống được đến mức ấy, họ không chỉ sống sót qua thử thách, mà còn có thể biến thử thách thành lời giảng.

Có lẽ chúng ta nên dừng ở đây mà hỏi rất thật với lòng mình: điều gì đang là nền của đời tôi? Tôi nói mình tin Chúa, nhưng thật ra điều gì làm tôi bình an? Là Chúa, hay là việc mọi sự đang yên ổn? Điều gì làm tôi sụp đổ? Là vì tôi yếu đuối trước mặt Chúa, hay vì những thứ tôi xem là chỗ dựa đã lung lay? Tôi có thật sự thuộc về Chúa đến mức ngay cả khi bị lấy đi nhiều điều, tôi vẫn không mất căn tính sâu nhất của mình không? Hay chỉ cần một biến cố, một phản bội, một thất bại, một cơn bệnh, một lần mất mặt, một bất đồng trong gia đình, một vết thương trong cộng đoàn, là tôi đã để tâm hồn mình rơi vào bóng tối như thể không còn gì để bám nữa?

“Đường Hy Vọng” buộc chúng ta phải hỏi như thế. Vì nếu không, ta sẽ chỉ ngắm Đức Hồng y Thuận như một khuôn mặt đẹp của quá khứ, mà không để cho chứng từ ấy chất vấn chính nền móng đời mình trong hiện tại.

Một điểm rất sâu nữa cần được suy niệm là: tại sao trong bóng tối, ngài lại không đóng lại, mà lại mở ra? Thường khi đau khổ, phản ứng tự nhiên của con người là co vào. Người bị tổn thương thường co vào. Người thất vọng thường co vào. Người mất niềm tin thường co vào. Người bị phản bội thường co vào. Người bị đối xử bất công thường co vào. Co vào trong nghi ngại. Co vào trong tự thương hại. Co vào trong nỗi buồn của mình. Co vào trong câu chuyện của mình. Co vào trong cơn đau đến mức chỉ còn thấy mình và vết thương của mình. Điều đó rất tự nhiên. Nhưng cũng rất nguy hiểm. Vì khi linh hồn chỉ còn xoay quanh vết thương của mình, linh hồn bắt đầu nghèo đi. Không còn chỗ cho tha nhân. Không còn chỗ cho sứ mạng. Không còn chỗ cho ân sủng hoạt động rộng hơn.

Còn ở đây, Đức Hồng y Thuận đau đấy, nhưng không co vào. Ngài lại mở ra. Ngài nghĩ đến người khác. Ngài viết để nâng đỡ người khác. Ngài để cho nỗi đau của mình không trở thành một chiếc hố khép kín, nhưng thành một chiếc giếng từ đó người khác có thể đến mà kín múc nước. Đây là điều rất nhiệm mầu. Và cũng là một trong những dấu hiệu đẹp nhất của một linh hồn thực sự trưởng thành trong Chúa. Linh hồn trưởng thành không phải là linh hồn không đau. Mà là linh hồn đau mà vẫn sinh trái. Bị đóng đinh mà vẫn có thể tha thứ. Bị cô đơn mà vẫn giữ được lòng quảng đại. Bị hiểu lầm mà vẫn không thôi yêu thương. Bị tước mất nhiều thứ mà vẫn tìm cách làm giàu cho người khác.

Nếu đem điều này soi vào đời sống mục vụ, ta sẽ thấy nó quý vô cùng. Có những người chỉ cần bị hiểu lầm một lần là khép luôn trái tim. Có những người chỉ cần thất vọng một biến cố là rút khỏi mọi dấn thân. Có những người chỉ cần bị đụng tự ái là không còn muốn cộng tác. Có những người mang trong lòng một nỗi đau cũ đến nỗi từ đó về sau không còn trao được điều gì lành cho ai nữa. Có những linh mục mệt mỏi quá mà vô tình bắt đầu giữ mình khỏi bị đau, nhưng cùng lúc đó cũng giữ luôn cả khoảng dịu dàng, lòng nhiệt thành, và sự cởi mở của mình. Có những người giáo dân từng bị tổn thương bởi một người trong cộng đoàn rồi dần dần để vết thương ấy biến thành cái nhìn lạnh với cả Giáo Hội. Tất cả những điều ấy đều cho thấy khi đau khổ không được đem vào trong Chúa, nó dễ làm tâm hồn co rút.

Đức Hồng y Thuận đi một con đường khác. Ngài đem bóng tối vào trong Chúa. Và vì thế, bóng tối không biến ngài thành một con người khép kín. Trái lại, nó còn làm lời nói của ngài mở hơn, rộng hơn, có sức ôm hơn. Nơi ngài, đau khổ không đẻ ra độc tố. Nó đẻ ra lời chứng. Đây là chỗ chúng ta cần xin ơn rất nhiều. Bởi vì không ai tránh được đau khổ. Nhưng không phải ai cũng biết đau khổ phải đi đâu. Có người giữ nó trong lòng quá lâu rồi nó lên men thành bitterness, thành cay đắng. Có người nén nó xuống rồi nó biến thành sự lạnh. Có người che nó đi rồi nó biến thành thái độ chua chát. Có người không chịu khóc trước mặt Chúa, nên nước mắt âm thầm chảy vào tính khí. Có người không dám đem vết thương ra dưới ánh sáng Chúa, nên vết thương ấy âm ỉ làm đời sống cầu nguyện héo đi.

Cho nên, học nơi Đức Hồng y Thuận không phải chỉ là học kiên cường, mà là học cách dâng nỗi đau lên đúng nơi. Khi đau được đặt trong tay Chúa, nó không còn chỉ là đau nữa. Nó có thể trở thành của lễ. Khi cô đơn được đặt trong tay Chúa, nó không còn chỉ là thiếu thốn nữa. Nó có thể trở thành không gian hiệp thông sâu hơn. Khi bất công được đặt trong tay Chúa, nó không còn chỉ là cớ gây phẫn nộ nữa. Nó có thể trở thành nơi linh hồn tập tin tưởng vào công lý của Chúa. Và khi đêm tối được đặt trong tay Chúa, nó không còn chỉ là nơi đáng sợ nữa. Nó có thể trở thành sa mạc nơi Thiên Chúa nói với trái tim.

Ở đây, chúng ta bắt đầu hiểu một chiều sâu khác của “Đường Hy Vọng”: đây không chỉ là những lời khích lệ, mà là hoa trái của một đời sống chiêm niệm giữa thử thách. Những dòng ngắn ấy không nhẹ vì chúng đơn giản. Chúng mạnh vì chúng được gạn từ lửa. Cái gì được viết từ đau khổ đã được cầu nguyện thì có một sức nặng khác hẳn. Nó không màu mè. Nó không trang trí. Nó không cần nhiều chữ để gây ấn tượng. Nó đi thẳng vào tim người đọc vì nó đi ra từ nơi rất sâu. Những câu như thế không phải là câu của người đang đứng ngoài khổ đau mà nói về hy vọng. Đó là câu của một người đang ngồi ngay trong đêm tối mà vẫn không thôi tin. Bởi vậy, chúng có thẩm quyền thiêng liêng. Không phải thứ thẩm quyền đến từ chức vị. Nhưng là thứ thẩm quyền phát xuất từ chứng tá.

Ngày nay, người ta nghe quá nhiều lời nói. Xã hội tràn ngập âm thanh. Ai cũng có thể nói. Ai cũng có thể chia sẻ. Ai cũng có thể viết vài câu truyền cảm hứng. Nhưng giữa biển lời ấy, cái mà linh hồn thật sự cần không phải là thêm chữ. Linh hồn cần sự thật. Linh hồn cần chứng từ. Linh hồn cần một lời nói đã đi qua thập giá mà vẫn còn thơm mùi hy vọng. Và đó là lý do tại sao “Đường Hy Vọng” sống lâu. Nó không phải một sản phẩm tinh thần. Nó là tiếng vọng của một linh hồn đã thực sự chiến đấu và đã không để mất Chúa.

Có khi nào chúng ta cũng phải học viết “đường hy vọng” của đời mình như thế không? Không phải ai cũng cầm bút. Nhưng ai cũng đang viết một thứ gì đó bằng đời sống mình. Có người viết bằng cách họ phản ứng trước đau khổ. Có người viết bằng cách họ đối xử với người thân trong lúc mình mệt. Có người viết bằng cách họ cầu nguyện hay ngưng cầu nguyện khi gặp thử thách. Có người viết bằng cách họ tha thứ hay giữ hận. Có người viết bằng cách họ tiếp tục trung tín với bổn phận hay buông xuôi. Có người viết bằng cách họ gìn giữ ngọn lửa đức tin cho con cái giữa một xã hội đầy phân tâm. Có người viết bằng cách họ già đi. Có người già đi trong bình an. Có người già đi trong khó chịu. Có người già đi trong tạ ơn. Có người già đi trong trách móc. Mỗi người đều đang viết một con đường nào đó cho người khác nhìn vào.

Bởi vậy, vấn đề không chỉ là: Đức Hồng y Thuận đã viết gì? Nhưng còn là: tôi đang viết gì bằng chính đời sống tôi? Những người sống gần tôi có đọc thấy hy vọng nơi tôi không? Gia đình tôi có thấy nơi tôi một sự bình an sâu không? Giáo dân có cảm được nơi người mục tử của họ một lòng cậy trông không? Người trẻ có thấy nơi người lớn tuổi một ánh sáng bền bỉ không? Người đau khổ có gặp nơi cộng đoàn đức tin một lời mời gọi đứng lên không? Hay trái lại, đời tôi đang viết ra sự chán nản, viết ra sự nóng nảy, viết ra cay đắng, viết ra thất vọng, viết ra thứ đạo chỉ còn hình thức mà không còn sức nâng?

Đây là một câu hỏi rất đáng sợ, nhưng cần thiết. Vì nhiều khi ta tưởng mình đang sống bình thường, nhưng thật ra người khác đang đọc nơi ta một Tin Mừng méo mó. Một người cha luôn phàn nàn làm con cái đọc thấy một Thiên Chúa khó chịu. Một người mẹ chỉ biết lo lắng và trách móc làm gia đình đọc thấy một đức tin không có bình an. Một người phục vụ trong Giáo Hội mà nói nặng, ganh đua, tự ái, làm cộng đoàn đọc thấy một Hội Thánh không có vẻ đẹp hiệp thông. Một linh mục cử hành bí tích như việc làm cho xong khiến giáo dân đọc thấy một mầu nhiệm không còn lửa. Mỗi người đều đang viết. Và điều đáng sợ không phải là mình không viết, mà là viết mà không ý thức mình đang viết gì.

Trái lại, đời Đức Hồng y Thuận viết rất rõ một chân lý: bóng tối không có tiếng nói cuối cùng. Không phải vì bóng tối yếu. Nhưng vì tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn. Không phải vì ngài không có lúc cô đơn. Nhưng vì cô đơn không làm ngài quên Đấng đang ở với mình. Không phải vì ngài không có lúc xót xa. Nhưng vì xót xa không biến ngài thành người thua trận. Đây chính là cốt lõi của mầu nhiệm Vượt Qua: thập giá là thật, nhưng phục sinh cũng thật; đêm tối là thật, nhưng bình minh cũng thật; nước mắt là thật, nhưng ân sủng còn thật hơn nữa.

Chúng ta sống đạo nhiều năm, nhưng có khi vẫn chưa thật sự tin điều ấy. Ta tin phục sinh như một tín điều, nhưng lại sống như thể thứ đang có quyền cuối cùng là thất bại, là tổn thương, là cái chết của hy vọng. Ta tin Chúa quyền năng, nhưng trong thực tế hằng ngày lại cư xử như thể Chúa chỉ có thể hiện diện trong những hoàn cảnh thuận lợi. Ta nói Chúa là Đấng cứu độ, nhưng cứ mỗi lần gặp thử thách là lại sống như người mồ côi. Và bởi vậy, chứng từ của Đức Hồng y Thuận rất cần cho thời đại này. Ngài dạy ta không phải bằng bài học lý thuyết, mà bằng chính một đời đã đi vào bóng tối mà không bỏ niềm cậy trông.

Có lẽ cũng cần nói thêm một điều rất quan trọng: hy vọng Kitô giáo không phải là sự lạc quan rẻ tiền. Nó không che phủ thực tế. Nó không tô màu hồng lên đau khổ. Nó không bảo người ta rằng rồi mọi sự sẽ dễ dàng. Không. Hy vọng Kitô giáo đi xuyên qua đau khổ chứ không vòng qua nó. Nó đứng nhìn sự thật của đau khổ, nhưng không quỳ lạy trước đau khổ. Nó chấp nhận thập giá, nhưng không thần tượng hóa thập giá. Nó đi qua đêm tối, nhưng không trao linh hồn cho đêm tối làm chủ. Đó là lý do vì sao hy vọng Kitô giáo không mong manh. Nó không dựa vào cảm xúc. Nó dựa vào một Đấng đã bước qua cái chết và chiến thắng nó.

Lm. Anmai, CSsR

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập174
  • Hôm nay64,435
  • Tháng hiện tại1,784,669
  • Tổng lượt truy cập102,912,872
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây