Hương Vĩnh - Sau Ba Thập Niên. Phần 2.

Thứ ba - 15/07/2014 21:18

-

-
Một điểm nổi bật là ở khắp nơi trong nước, nhiều nhà thờ và nhiều ngôi chùa đồ sộ được xây cất hay sơn phết lại màu hồng. Màu nầy chắc chắn phải mang một ý nghĩa nào đó mà trí óc hạn hẹp của tôi không cho phép tôi hiểu biết một cách thấu đáo.
Hương Vĩnh - Sau Ba Thập Niên. Phần 2.
 
III.- SINH HOẠT TÔN GIÁO
 
Những nơi tôn nghiêm lộng lẫy
 

Tác giả HƯƠNG VĨNH (Đỗ Tân Hưng AN49)
Một điểm nổi bật là ở khắp nơi trong nước, nhiều nhà thờ và nhiều ngôi chùa đồ sộ được xây cất hay sơn phết lại màu hồng. Màu nầy chắc chắn phải mang một ý nghĩa nào đó mà trí óc hạn hẹp của tôi không cho phép tôi hiểu biết một cách thấu đáo.
 
Ngay cả tòa Tổng Giám Mục Sàigòn cũng sơn phết màu hồng, với những dãy nhà đồ sộ, nếu những người thân quen không lưu ý thì tôi không thể nào nhận ra. Trước 1975, tòa Tổng Giám Mục Sàigòn chỉ là một ngôi nhà cổ kính, bé nhỏ, nằm khiêm tốn bên vệ đường, ít ai để ý tới.
 
Nhìn những ngôi chùa và những thánh đường tân trang đồ sộ, cùng những người đi lễ bái hay tham dự Thánh lễ chật ních vào mỗi dịp lễ, cứ bề ngoài mà xét đoán thì Việt-Nam hiện nay đang có tự do tôn giáo. Nhưng nội tình các tôn giáo như thế nào thì điều đó vượt quá sự hiểu biết hạn hẹp của tôi vì tôi không phải là người trong cuộc, do đó rất khó đưa ra một sự phê phán khách quan vì thiếu những dữ kiện chính xác.
 
Đứng trước cảnh tượng các nơi tôn nghiêm được tân trang lộng lẫy, các tôn giáo có vẻ đang hồi sinh ở Việt-Nam, tôi dâng lên lời nguyện “Ngôi Thánh Đường Đời Con”, (“La Cathédrale de ma vie” của Charles Singer, trong sách LKĐNTNK, trang 10-12), mong sao mỗi tín hữu lo xây đắp ngôi thánh đường đời mình thật khang trang, đầm ấm:
 
    “Lạy Chúa,
Cuộc đời con là một ngôi Thánh Đường,
từ tro bụi bao năm trường xây đắp,
con tự hào với tât cả niềm tin,
bằng đôi tay, bằng mối tình nghệ sĩ,
để vươn lên thật cao quý tôn nghiêm.
 
Con cố gắng, con miệt mài tìm kiếm,
từ khắp nơi, tận góc biển chân trời,
trên quê hương những loại đá tuyệt vời,
con làm việc không một lời than vãn:
Xẻ, đục, cưa và chạm trổ say mê,
tay xây xát, con không hề bỏ cuộc,
búa đẻo hư, con một mực kiên trì.
con mãi mê làm cho đến khi ẩn hiện,
những phù điêu cảnh thánh điện, thiên thần,
đang tấu nhạc thật hòa vang tôn kính,
nét vui tươi và thanh tĩnh cuộc đời.

Lạy Chúa,
Ngôi Thánh Đường của đời con,
không thể xong trong một sớm một chiều,
nhưng vun đắp trải qua nhiều năm tháng,
cùng với nhiều biến dạng của thời gian.
 
Có thể,
Con sẽ vui mừng hay than van khóc lóc,
thậm chí,
đổ máu đào khi học biết thương đau.
 
Thế nhưng,
con mãi vững tin vào sức mạnh,
chẳng phải từ nơi con để vượt thắng giòng đời,
mà tâm nguyện: chỉ nơi Ngài, Lạy Chúa,
ngôi Thánh Đường con sẽ tựa trung kiên,
để trụ vững giữa đảo điên nhân thế,
để hiên ngang đứng giữa bể dâu đời.
 
Lạy Chúa, con chỉ là người thợ cả,
chính Ngài, con không quá lời đâu:
là Thiên Chúa, là Khởi Đầu, là Chung Cuộc,
chính Ngài, Nhà Kiến Trúc của đời con.”
 
Nếp sống đạo của giáo dân
 
Nhìn chung, cách hành đạo của đại đa số giáo dân vẫn theo khuôn khổ như trước 1975. Mỗi sáng sớm tôi đi tham dự Thánh lễ lúc năm giờ sáng ở Dòng Đa-Minh, đường Lê Văn Sỹ mà trước kia thường gọi là nhà thờ Ba Chuông. Điều tôi rất ưa thích ở đây là trước khi Thánh lễ được cử hành, giáo dân cùng đọc kinh Nhật Tụng ban sáng với các linh mục tu sĩ. Điều đó mang lại nhiều đổi mới, giúp giáo dân có nhiều chất liệu suy tư mỗi ngày cho đời sống nội tâm.
 
Tại những nhà thờ khác, giáo dân thường đọc những kinh nguyện quen thuộc, khiến đâm ra nhàm chán, lo ra, không còn để ý đến ý nghĩa các lời kinh, như tiên tri Esai đã quở trách: “Dân nầy thờ Ta bằng môi miếng, nhưng lòng trí chúng nó rất xa cách Ta.”
 
Bí tích hoà giải

Vào một buổi chiều thứ bảy, tôi tham dự Thánh lễ tại nhà thờ thuộc một cộng đoàn tu trì khá lớn ở gần trung tâm thành phố Sàigòn. Trước Thánh lễ nửa giờ, hai hàng giáo dân đứng nối đuôi nhau một cách rất nghiêm trang tại nhà mặc áo lễ của các cha để chờ đợi xưng tội. Hai linh mục trọng tuổi ngồi trong hai tòa giải tội. Lúc đó một linh mục trọng tuổi khác đang đứng chờ để thay phiên giải tội. Ngoài ra một vị linh mục trẻ tuổi hơn đang chậm rãi đi vào, đợi tới lượt vào ngồi tòa giải tội.
 
Tôi rất cảm phục các giáo hữu – gồm các cụ già chống gậy và những thanh thiếu niên – nam cũng như nữ – vẫn xếp hàng yên lặng đứng chờ, gần nửa giờ đồng hồ, khoanh tay âm thầm thống hối để tới phiên mình được xưng tội. Sự kiên nhẫn của giáo dân Việt-Nam đã đạt tới một kỷ lục khá cao, khó tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
 
Thuyết giảng
 
Trong Thánh lễ tiếp theo, một linh mục cũng khá trọng tuổi thuyết giảng về Thánh An-Phong, vì nhằm ngày lễ Thánh Quan Thầy của cộng đoàn tu trì đó. Xen kẻ vào bài giảng, ngài còn trình bày thêm về Thánh Mẫu Học. Bài giảng tuy khó hiểu, chỉ chấm dứt sau nửa giờ đồng hồ, nhưng giáo dân vẫn yên lặng ngồi khoanh tay lắng nghe. Một gương kiên nhẫn khác của giáo dân Việt Nam!
 
Dâng cúng nhà thờ
 
Ở ba bốn nhà thờ mà tôi đã tham dự Thánh lễ các ngày Chúa nhật hay chiều thứ bảy, một đặc điểm chung là lúc dâng cúng ít người bỏ tiền vào giỏ – không chỉ những người ở trong nước mà cả những Việt kiều nữa. Theo tôi, đó là một sự thiếu sót trong bổn phận của giáo dân đối với nhà thờ. Vì vậy các họ đạo ở Việt-Nam hay tổ chức những cuộc quyên tiền tại gia cho những công việc trùng tu nhà thờ, hay những chương trình trọng đại khác.
 
IV.- SỐNG ĐỜI KHÓ NGHÈO
 
Đáp lại tiếng gọi Tin Mừng
 
Trong lúc đại đa số giới trẻ ở đây đang tận dụng mọi phương cách để kiếm thật nhiều tiền ngõ hầu đáp ứng nhu cầu vật chất, trong bối cảnh một xã hội đang đổi mới thì một thiểu số rất nhỏ những thanh thiếu niên nam nữ đã đáp lại tiếng gọi của Tin Mừng để sống đời phục vụ tha nhân.
 
Điều làm tôi cảm động là mỗi sáng sớm, một nhóm các em dự tu – có lẽ thuộc Nữ Tử Bác Ái hay một tu hội nào khác – nghiêm trang đi tham dự Thánh lễ ở nhà thờ Dòng Đa-Minh – và có lẽ ở những nhà thờ khác nữa. Các em ăn mặc đơn sơ: áo trắng quần xanh, nghiêm trang trong mỗi bước đi, đắm hồn trong sự suy tư chiêm niệm.
 
Nếp sống khó nghèo thật sự
 
Lần đầu tiên tới thăm linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung – trước kia là một bác sĩ Phật giáo – tại Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn ở đường Nguyễn Kiệm, tôi được cha dẫn đi xem một số phòng ốc, nhờ đó tôi mới hiểu được phần nào nếp sống khó nghèo của các tu sĩ trong bối cảnh hiện tại.
 
Phòng cha Chung chỉ vỏn vẹn một chiếc giường gỗ với một chiếc chiếu trải lên đó. Bên cạnh tủ sách là một chiếc ghế và một cái bàn nhỏ. Có cái quạt máy treo tường nhưng không thấy hoạt động! Với khí hậu oi bức mùa hè ở Sàigòn, tôi không hiểu làm sao cha có thể chịu đựng được “cái nóng nung người, nóng nóng ghê!
 
Cha dẫn tôi đi xem phòng ngủ các thầy. Năm sáu thầy nằm ngủ trong một phòng nhỏ: chỉ có hai giường gỗ, ngoài ra là mấy chiếc chiếu xếp lại, để trên sàn nhà. Thầy nào cảm thấy nằm trên sàn nhà không được thì mới nằm trên giường.
 
Khi quan sát cảnh tượng đó, tôi tự nhủ: đành rằng có một số linh mục tu sĩ sống trong nhung lụa, ngủ trong nệm ấm chăn êm với máy điều hòa không khí… không thiếu những linh mục tu sĩ có nếp sống thanh bần theo gương Thầy Chí Thánh: “Con chim có tổ, con chồn có hang, Con Người không nơi gối đầu!”
 
Tôi nhớ lại “Lời Nguyện Không Thể Thiếu” của đông đảo linh mục cũng như nam nữ tu sĩ đang sống đời chứng nhân một cách hùng hồn (sách LKĐNTNK, trang 7-9), để cầu xin Chúa cho những tôi trung của Ngài luôn trung thành với những gì đã đoan hứa:
 
“… Lay Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới trao tặng niềm tin,
nhưng con lại có thể làm nên
chứng tá sống động cho Chúa hôm nay.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới gởi đến niềm hy vọng,
nhưng con lại có thể giúp anh em con
tìm lại nguồn cậy trông.
 
Lạy Chúa chỉ mình Chúa,
Ngài mới đốt lên ngọn Lửa Mến,
nhưng con lại có thể giúp anh em con
học biết yêu thương.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới tác tạo hòa bình,
nhưng con lại có thể ra đi gieo cấy
tình đoàn kết hợp nhất anh em.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới là Đấng ban sức mạnh Thánh Linh,
nhưng con lại có thể nâng đỡ
một tâm hồn anh em đang thất vọng.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới thật sự là đường,
nhưng con lại có thể chỉ đường
cho anh em con bước đi.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới là ánh sáng,
nhưng con lại có thể
làm cho ánh mắt anh em con
thêm ngời sáng long lanh.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới là sự sống vĩnh cửu,
nhưng con lại có thể đem đến
cho anh em con niềm vui sống.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới thực hiện được những điều nan giải,
nhưng con lại có thể làm được
cái khả dĩ làm được trong tầm tay.
 
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
tự Ngài đã thực sự viên mãn,
nhưng Ngài lại ưa thích cho con
được cộng tác trong công việc của Ngài,
và Ngài lại ưa thích nương nhờ nơi con
để cứu độ mọi người.”
 
Nhà Dưỡng Lão Tình Thương Bình Thạnh
 
Vào một trưa Chúa nhật, tôi đã tham dự Thánh lễ do cha Chung cử hành cho các cụ bà ở Nhà Dưỡng Lão Tình Thương Bình Thạnh. Nhà Dưỡng Lão nầy nằm khuất trong một thôn xóm hẻo lánh, bên cạnh dòng sông Sài Gòn với những hàng dừa nước hoang dại. Trước Nhà Dưỡng Lão là một dãy mộ bia của những nữ tu đã ra đi từ lâu, sau một thời gian dài tận hiến cuộc đời phục vụ người nghèo. Nhà Dưỡng Lão gồm mấy dãy nhà nghèo nàn xơ xác, tương xứng với những cụ bà cũng rất nghèo hèn, xem chừng bị bỏ rơi, không được người nhà quan tâm.
 

Cổng chính vào nhà dưỡng lão
 
Nhà này nuôi dưỡng 37 cụ bà. Bà cụ già nhất được 94 tuổi. Đa số các cụ bà trên 70 tuổi. Có 14 cụ bà bị bệnh nặng, đại tiểu tiện tại chỗ, cần chăm sóc tích cực. Nhà có 4 phòng: hai phòng dành cho các cụ bệnh nặng và hai phòng dành cho các cụ đi lại được. Các nữ tu phải mướn thêm hai người giúp việc, lương tháng khoảng năm hay sáu trăm ngàn đồng Việt-Nam, chưa tới ba bốn chục Mỹ Kim. Chính các em dự tu và các chị khấn tạm đã tích cực giúp đỡ các cụ bà.
 
Khi tôi vừa tới nơi là lúc cha Chung đang chia sẻ bài Phúc Âm Chúa nhật. Những lời nói chân thành đơn sơ của cha phản ảnh một tâm hồn say mê Lời Chúa và sống Lời Chúa.
 
Khi Thánh lễ chấm dứt, cha Chung dẫn tôi đi thăm Nhà Dưỡng Lão. Hầu hết những cụ bà đều đau yếu, phần nhiều ngồi xe lăn, hay xê dịch phải có người giúp đỡ. Một ít cụ nằm suốt ngày trên giường. Các cụ nằm trên những chiếc giường sắt nghèo nàn, nhưng sạch sẽ vì được các chị nữ tu và các em dự tu chăm sóc chu đáo về mặt vệ sinh. Nhưng có cụ vì nằm lâu ngày trên giường nên lưng bị thâm đen.
 
Lúc đó một cụ già yếu vì nhu cầu phải nằm xuống giường, nhưng không thể tự lực được. Một nhóm năm sáu em dự tu vội vàng xúm lại, vui vẻ bồng đỡ: em thì choàng lưng, em khác đỡ vai còn em khác nữa thì quàng chân…chẳng khác nào những cháu chắt trong nhà đỡ đần các bà ngoại, bà nội chưa hẳn được như vậy. Có lẽ vì thế mà các cụ hay nở nụ cười trên môi, tuy phải đau đớn về thể xác và đau khổ trong tâm hồn.
 
Chứng kiến cảnh tượng đó, tôi tự hỏi có gì hấp dẫn nơi các cụ bà, nghèo hèn xơ xác, da thịt nhăn nheo, đen điu xấu xí… nếu không phải vì tiếng gọi của Tình Yêu Thiên Chúa. Trong lúc các tầng lớp thiếu nữ thuộc lứa tuổi các em đều ra sức tìm kiếm những nếp sống mang lại phúc lợi cho chính bản thân họ, còn các em đã tự nguyện quên mình cho những người bị bỏ rơi. Các em đã dâng hiến đời mình cho Chúa để theo đuổi lý tưởng quên mình vì tha nhân:
 
    “Chỉ mong Ngài lấy đi
mong chẳng còn gì thuộc về con,
mong chẳng còn gì là của con,
để con được trắng tay,
con chỉ còn Ngài để giữ lấy,
con được chọn Chúa mãi là của con.
 
Chỉ mong Ngài xóa đi,
mong chẳng còn gì để chiếm hữu,
mong chẳng còn gì ràng buộc con,
để con được ngước lên,
con tìm được Ngài là chân lý,
con được cùng Chúa đồng hành luôn.
 
Chỉ mong Ngài cất đi,
mong chẳng còn gì để nắm giữ,
mong chẳng còn gì mà tự tôn,
để con chỉ biết yêu,
yêu một mình Ngài trọn đời con,
con nhìn nhận Chúa chính Nguồn Tình Yêu.”
 
(“Mong Chẳng Còn Gì” của Tagore, trong sách LKĐNTNK, do Lê Quang dịch, trang 20)
 
V.- LINH MỤC NGUYỄN VIẾT CHUNG
 
Một bác sĩ Phật giáo trở thành linh mục
 

Linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung hiện đang thi hành mục vụ ở miền Cao Nguyên
 
Linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung nguyên là một bác sĩ Phật giáo, chuyên môn về Da Liễu. Khi lên 18 tuổi, nhân đọc một bài báo nói về cái chết của Đức Cha Jean Cassaigne tại trại phong Di-Linh, cậu Chung cảm thấy cuộc sống đó quá tốt đẹp và vô tình Đức Cha Jean Cassaigne đã trở thành thần tượng của cậu. Khi nhắc lại đoạn đời đó, cha Chung cho biết là ngài được ‘rao giảng Tin Mừng bằng đời sống’, chứ không phải bằng lời nói. Từ đó cậu Chung có tâm nguyện học làm bác sĩ để phục vụ bệnh nhân phong như Đức Cha Jean Cassaigne.
 

Đức Cha Jean Cassaigne và hai bệnh nhân phong tại Di Linh
 
Khi bắt đầu học năm thứ nhất y khoa, nhân dịp tham dự Thánh lễ khai khóa của linh mục giáo sư bác sĩ Lischenberger, cậu Chung nhận thấy con người khoa học uyên bác của giáo sư Lischenberger đã biến thành một linh mục khả kính, trang nghiêm siêu thoát, chìm đắm trong cõi phúc lạc thần thiêng… Ơn gọi làm linh mục của cha Chung đã chớm nở từ đó.
 
Khi bác sĩ Chung phục vụ tại trại phong Bến Sắn, Dì Hai Loan thuộc Tu Hội Nữ Tử Bác Ái là Phó Giám Đốc. Dì là người đã phục vụ ở đây gần 17 năm, bất ngờ ngã bệnh ung thư và mất đi sau mấy tháng. Khi Dì hấp hối, bác sĩ Chung đang sửa soạn để đi với bác sĩ Quang, bác sĩ Bích Vân lên trại phong Di-Linh khám mắt cho bệnh nhân. Vì xe chưa tới, bác sĩ Chung tiếc nuối những giây phút cuối cùng còn lại với Dì Hai Loan nên đã trở lại giường bệnh của Dì. Lúc đó Dì Hai Loan mở mắt ra, nhìn bác sĩ với đôi môi mấp máy như muốn nói điều gì. Dì Mười hiểu được, liền nói: “Chung, Dì Hai Loan nói, tại sao chưa đi?”
 
Khi kể lại kỷ niệm nầy cho tôi, cha Chung đã dùng những ngón tay phải chỉ vào cánh tay trái và cho biết lúc đó cha cảm thấy bị rởn da gà lên. Sau đó, bác sĩ Chung đã về dự tang lễ của Dì Hai Loan và đã quyết định theo đạo. Một năm sau nữa bác sĩ Chung đã vào tu ở Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn và sau tám năm, đã nhận lãnh Thánh chức linh mục hơn một năm nay.
 
Ba vị đã tác động mạnh mẽ trên Ơn Gọi của cha Chung là giám mục Jean Cassaigne, linh mục Lischenberger và Dì Hai Loan. Cả ba cùng có một mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói!
 
Nguyện ước của cha Chung là được phục vụ bệnh nhân phong và bệnh nhân Aids rồi cuối cùng ngã bệnh giữa những bệnh nhân mà cha yêu thương phục vụ, đúng như lời Chúa Kitô đã phán dạy: “Không có Tình Yêu nào cao trọng cho bằng hy sinh mạng sống mình cho kẻ mình yêu!”
 
Hiện nay linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung đang phục vụ ở Giáo Phận Kontum Cao Nguyên

Địạ chỉ email: Chung Nguyen Viet <augustinchung@gmail.com>
 
Những trở ngại về phía gia đình
 
Đáp câu hỏi của tôi là trên hành trình theo Chúa, có những trở ngại lớn lao nào về phía gia đình không? Cha cho biết gia đình của cha là một gia đình nghèo với chín người con. Đời sống gia đình thường xảy ra cảnh “cơm không lành, canh không ngọt”. Điều đó đã ảnh hưởng cha từ thuở thiếu thời nên cha đã có ý định đi tu vì nhận thấy đời sống gia đình không mang lại hạnh phúc.
 
Khi làm bác sĩ, trong hai năm đầu cha đã hành nghề để có thể trả nợ cho gia đình. Trong những năm kế tiếp, cha đã giúp đỡ những người em ăn học và hiện có một em trai là bác sĩ chuyên môn về phổi.
 
Người em nầy đã thay thế cha phụng dưỡng hai cụ thân sinh.
 
Khi còn là tu sĩ, chưa được thụ phong linh mục, một ngày kia được tin cụ thân sinh bị bệnh, cha đi xe đạp về thăm. Vừa vào nhà, cụ thân sinh liền quở trách cha là một người “không biết nhục”. Theo lời cụ, các bạn bè của cha đều đi xe hơi, xây nhà lầu hai ba tầng cho bố mẹ ở. Còn cha, cha lại đạp chiếc xe đạp cọc cạch về thăm nhà!
 
Trước đây khi cha ngõ ý với cụ bà là muốn đi tu thì cụ bà rất vui, vì tưởng cha tu theo Phật giáo. Nhưng khi biết cha sẽ tu theo Công giáo thì cụ bà giữ im lặng.
 
Sau khi được thụ phong linh mục vài ba hôm, cha về thăm gia đình. Mới bước vào nhà, cụ bà cất tiếng nói: “Mẹ có điều nầy muốn nói với con.” Cha vội kéo ghế mời cụ bà ngồi rồi nói: “Thưa Mẹ, xin Mẹ cứ nói, con xin nghe.” Bấy giờ cụ bà đáp: “Mẹ muốn nói với con điều nầy là đạo Mẹ, Mẹ giữ, đạo con, con giữ.” Cha liền thưa: “Xin Mẹ cứ giữ đạo của Mẹ. Con không bao giờ có ý nghĩ là sẽ khuyên bảo Mẹ theo đạo của con.”
 
Những thử thách trên hành trình tu trì
 
Đáp câu hỏi của tôi là trong thời gian đi tu cũng như làm linh mục, có lúc nào cha cảm thấy những thử thách quá lớn và nảy sinh ý định muốn bỏ cuộc? Cha đăm chiêu nhìn tôi một phút rồi chậm rãi trả lời: “Thật ra ở giai đoạn nào trong đời sống tu trì cũng đều có những cám dỗ riêng: từ nhà tập đến khấn tạm rồi khấn trọn đời và làm linh mục. Nhưng nếu tu sĩ biết tuân giữ ba lời khấn là vâng lời, khiết tịnh và khó nghèo, đọc kinh Nhật Tụng, suy gẫm Phúc Âm…thì sẽ vượt qua những cơn cám dỗ.”
 
Cha Chung còn chia sẻ với tôi đôi điều có tính cách riêng tư nhưng cũng phần nào ray rứt tâm can.
 
Trong giờ phút cảm động đó, tôi đã đưa tâm hồn lên với Chúa, cầu nguyện cho cha Chung và cho tất cả các linh mục cũng như nam nữ tu sĩ, đã trải qua những giây phút cô đơn trong cuộc đời tu trì, bằng lời kinh “Phút Cô Đơn”, của Ludovic Giraud, (sách LKĐNTNK, trang 49-50):
 
    “Lạy Chúa,
Con dâng lên Chúa những giờ phút cô đơn
đôi lần đến với con trong cuộc đời.
 
Con dâng lên Chúa
lúc con phải làm việc một mình:
trong sự tẻ nhạt của bổn phận nặng nề
mà không có lấy một sự khích lệ đỡ nâng
trong cộng đoàn.
 
Con dâng lên Chúa
những lúc cô đơn,
mò mẫm đi tìm trong hoài nghi,
khi không còn biết con đường
mình đang theo đuổi sẽ dẫn đến đâu
và trên đó bóng đêm bao trùm.
 
Con dâng lên Chúa
những giờ phút con phải
đau khổ âm thầm một mình,
dù đang ở giữa những kẻ mà con phải
bày tỏ Chúa cho họ và bị vô ơn hất hủi,
do thờ ơ và thiếu cảm thông.
 
Con dâng lên Chúa
những giây phút con phải yêu một mình
giây phút thật nặng nề
khi trái tim con khắc khoải,
đi tìm sự tương giao
mà không gặp thấy trong lòng người khác.
Và trong lòng những người con ưa thích
tìm thấy một sự no thỏa mà không nếm cảm được.
 
Con dâng lên Chúa
những giờ phút con phải đau khổ một mình,
những giây phút Giếtsêmani của bản thân con.
Và chính trong những lúc ấy,
lạy Chúa, con ước ao được nên giống Chúa.
 
Cũng như Chúa,
con ước muốn và cầu xin
cho chén khổ nầy ra khỏi con,
nhưng xin Chúa cho con sức mạnh
để chế ngự mình
mà vâng theo Thánh ý Cha,
Đấng Chúa yêu ngàn đời,
cả khi Ngài chấp nhận thấy con đau khổ.
 
Lạy Chúa,
xin đừng theo ý con
nhưng cho ý Cha được thể hiện Amen.”
 
VI.- TRUNG TÂM MAI-HÒA
 
Tháp tùng cha Chung
 
Cao điểm của những ngày về thăm Việt-Nam là việc tôi tháp tùng linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung đi thăm viếng Trung Tâm Mai-Hòa. Cha Chung hiện là một trong ba bác sĩ phục vụ tại Trung Tâm đó do các Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn đảm trách. Mỗi thứ hai hằng tuần, cha Chung đều lên Mai-Hòa suốt ngày để dâng Thánh lễ và khám bệnh. Hai bác sĩ thiện nguyện khác sẽ khám bịnh cho bịnh nhân vào các ngày thứ tư và thứ bảy.
 
Hôm đó tôi rời Sàigòn đi xe honda “ôm” với cha Chung lúc 7 giờ 30 sáng để trực chỉ Củ Chi, với đoạn đường dài trên 45 cây số. Lần đầu tiên tôi đi honda với nón an toàn nặng trĩu trên đầu. Khi honda vừa chạy độ 5 phút, trời mưa lâm râm, cha Chung đưa tôi mặc bộ quần áo mưa màu đen, trông chẳng khác nào hai phi hành gia bất đắc dĩ. Nhưng xe chạy được mười lăm phút, trời tạnh mưa. Một ít lâu sau trời bắt đầu nắng, nhưng cha Chung không hề dừng lại để cởi áo mưa. Sau khi rời quốc lộ, xe còn chạy trên mười cây số nữa mới tới Trung Tâm Mai Hòa.
 
Hôm đó tôi mặc áo dài tay, quần tây dài, mang giày, để tỏ lòng kính trọng của tôi đối với những chi thể đau khổ của Chúa Kitô. Thường ngày tôi chỉ mặc áo cụt tay, quần đùi, đi dép…để đáp ứng với cái nóng oi bức của trời Sàigòn.
 
Sơ lược về Trung Tâm Mai Hoà
 

Trung Tâm Mai Hoà
 
Đây là Trung Tâm săn sóc bệnh nhân AIDS ở giai đoạn cuối, không nơi nương tựa. Đó là một cơ sở Công giáo đầu tiên được chính thức thành lập để chăm sóc bệnh nhân AIDS tại Việt-Nam. Trung Tâm không nhận bệnh nhân đến trực tiếp mà chỉ nhận bệnh nhân chuyển đến từ khoa nhiễm E thuộc Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới, Trung Tâm Lao Phạm Ngọc Thạch và bệnh viện miễn phí An-Bình. Hiện Trung Tâm Mai-Hòa do nữ tu Nguyễn Kim Thoa (Dì Tuệ Linh) đảm trách.
 
Địa chỉ của Trung Tâm Mai-Hòa:
Ấp Lô 6, Xã An Nhơn Tây, Huyện Củ Chi,
TPHCM.
Điện thoại: (848) 8 926 135
Địa chỉ email: aidsmaihoa@hcmc.netnam.vn
 
Những em bé mồ côi mắc bệnh AIDS
 
Khi tới nơi, cha Chung và tôi cởi nón an toàn và bộ quần áo mưa ra. Mồ hôi tôi ướt đẫm như tắm. Nghe tiếng xe honda của cha Chung, mấy em bé năm sáu tuổi chạy ra mừng rỡ la lớn: “Cha ơi! Cha!” chẳng khác nào cảnh tượng mẹ đi chợ về. Ban đầu tôi cứ tưởng đó là những em còn khỏe mạnh mà cha mẹ đã qua đời vì bệnh liệt kháng, không được ai chăm nuôi. Sau đó cha Chung cho biết tất cả các em đều mắc bệnh AIDS, và mồ côi cha mẹ, ngoại trừ một em bé gái 4 tuổi còn mẹ.
 
Cách đây mấy tháng, mẹ của em nầy đã mang em lại để trước cổng chùa, với một miếng giấy ghi mấy chữ vắn tắt: “xin nhà chùa nuôi giúp”. Ngoài ra mẹ em cho biết tên em và em được bốn tuổi. Vị sư trụ trì đã mang em vào chùa nuôi. Sau đó em bị viêm phổi, đi khám nghiệm mới biết em nhiễm HIV, đã trở thành bịnh AIDS. Nhìn thân thể ôm yếu và nét mặt kém vui của em, tôi đoán biết em đang bị cơn bệnh hoành hành và đang trên đà tiến tới giai đoạn hiểm nguy…
 
Cảm tưởng đầu tiên của tôi là Trung Tâm Mai-Hòa ngày nay đã được nhiều ân nhân giúp đỡ – nhất là một số tòa đại sứ ngoại quốc – nên nhà cửa khang trang hơn, chứ không còn gây ấn tượng rùng rợn như khi tôi xem cuốn video một năm trước đây.
 
Tham dự Thánh Lễ với nước mắt chan hoà
 
Đây là Thánh lễ cảm động nhất mà tôi đã tham dự từ trước tới nay. Thánh Lễ được cử hành đơn giản trong một căn nhà thủy tạ hình bát giác ở giữa vườn, bên dưới là một giòng nước đục ngầu ứ đọng, không buồn chảy, chẳng khác giòng đời với chuỗi ngày dài lê thê của những bệnh nhân ở đây.
 
Nghe những tiếng thưa đáp của các bệnh nhân trong Thánh lễ – nhất là của các em bé – tôi không thể cầm được nước mắt. Suốt buổi lễ, nước mắt tôi chan hòa, khi thấy các em vẫn hồn nhiên đọc kinh, hát xướng như thường, không chút ý thức về số phận đen tối đang đè nặng trên các em. Lưỡi hái tử thần đang treo lủng lẳng trên đầu các em và sẵn sàng rơi xuống để gặt hái các em trong một ngày rất gần đây mà các em không chút hay biết.
 
Tôi nhớ lại sau đó, cha Chung đã vào thăm các em trong căn nhà dành riêng cho các em. Các em đã xúm lại ôm chân cha, níu kéo cha và quyến luyến không muốn rời khỏi cha. Có em đã được cha ẳm lên, vuốt ve một cách trìu mến. Tôi cũng nhớ lại lúc xế trưa, các em đã vui đùa cười giỡn trong sân với chị nữ tu phụ trách. Khi thấy các em vui đùa – tâm trạng của tôi lúc bấy giờ cũng giống như cha Đông trước kia – thấy các em cười nhưng tôi lại khóc.
 
Một bữa ăn đạm bạc
 
Hôm tôi lên Trung Tâm Mai-Hòa, tôi gặp bốn dì Nữ Tử Bác Ái phục vụ những bệnh nhân liệt kháng ở giai đoạn chót. Dì Tuệ Linh là giám đốc, một Dì trước đây đã phục vụ ở trại phong Di-Linh hơn hai mươi lăm năm, hiện làm y tá, một Dì săn sóc các em bé và một Dì nấu ăn.
 
Hôm đó tôi thấy thức ăn gồm rau muống luộc, canh khổ qua nhồi thịt và đồ tráng miệng là một miếng dưa hấu đỏ. Thức ăn nầy được dùng chung cho các nữ tu và bệnh nhân. Các bệnh nhân chia làm ba nhóm ăn cơm chung với nhau, đó là nhóm các trẻ em, những người bị lao phổi và những người nhiễm các bịnh khác.
 
Sau khi chia sẻ với tôi nhiều điều, cha Chung đã dẫn tôi sang phòng ăn Trung Tâm và dùng bữa ăn trưa. Tôi khâm phục tài nấu nướng của chị nữ tu phụ trách nhà bếp. Những món ăn rất ngon và đậm đà, hợp khẩu vị. Khi ăn trưa xong, đã hơn hai giờ rưỡi và cha Chung đã mất buổi nghỉ trưa.
 
Sau mấy tiếng đồng hồ được cha Chung chia sẻ tâm tình, tôi cầu xin Chúa cho tôi được học hỏi đôi điều qua gương sống chứng nhân của cha, của các linh mục và nam nữ tu sĩ khác, qua bài thơ “Xin Cho Con Sức Mạnh” của R. Tagore do Đỗ Khánh Hoan dịch (Sách LKĐ
NTNK, trang 39):
 
    “Lạy Thiên Chúa,
đây lời con cầu nguyện:
Xin tận diệt, tận diệt trong tim con
mọi biển lận tầm thường.
 
Xin cho con sức mạnh thản nhiên
để gánh chịu mọi buồn vui.
 
Xin cho con sức mạnh hiên ngang
để đem tình yêu gánh vác việc đời.
 
Xin cho con sức mạnh ngoan cường
để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó,
hay cúi đầu khuất phục
trước ngạo mạn, quyền uy.
 
Xin cho con sức mạnh dẻo dai
để  nâng tâm hồn vươn lên
khỏi ti tiện hằng ngày.
 
Và cho con sức mạnh tràn trề
để dâng mình theo ý Ngài luôn.”
 
VII.- TRUNG TÂM THIÊN PHƯỚC
 
Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em khuyết tật
 
Sau đó cha Chung dẫn tôi sang Cơ Sở Nuôi Trẻ Khuyết Tật Thiên Phước ở bên cạnh. Cơ Sở nầy do một cộng đoàn nữ tu khác đảm trách.
 
Trong khi cha Chung lên lầu dâng Thánh lễ cho các nữ tu, tôi ngồi ở dưới lầu, nơi có vài chục em dưới năm tuổi, nằm, ngồi hay bò hoặc đong đưa trong các chiếc ghế xích đu. Có em bò lại gần tôi, lấy tay sờ vào chân tôi, rồi nhoẻn miệng cười. Trông các em thật dễ thương và tội nghiệp. Khi nhìn các em, lòng tôi se thắt!
 

Các em khuyết tật ở Trung Tâm Thiên Phước
 
Qua việc thăm viếng hai cơ sở nầy – Trung Tâm Mai-Hòa và Trung Tâm Thiên Phước – tôi cầu xin Chúa cho tôi được mở mắt ra để thấy Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc đời:
 
    “Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.
 
Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất cũng chưa vừa cho con sống.
 
Xin cho con thấy Chúa thật thẳm sâu,
để con đón nhận nỗi khổ đau sâu thẳm nhất.
 
Lạy Chúa Giêsu,
Xin làm cho con thật mạnh mẽ,
để không nỗi thất vọng nào
còn chạm được tới con.
 
Xin làm cho con thật đầy ắp,
để ngay cả một ước muốn nhỏ,
cũng không còn có chỗ trong con.
 
Xin làm cho con thật lặng lẽ,
để con chỉ còn loan báo Chúa mà thôi
 
Xin Chúa ngự trong con thật sống động,
để không phải là con,
mà chính Ngài đang sống.

(“Xin Cho Con Thấy” trích từ Rabouni đăng trong sách LKĐNTNK trang 93) 
 
Những nắm tro tàn
 
Sau đó cha Chung và tôi trở lại Trung Tâm Mai Hòa. Trong một giờ đồng hồ, cha Chung hoàn tất những hồ sơ bệnh lý, còn tôi đi dạo quanh vườn. Những bông hoa cỏ dại mọc đó đây ở Trung Tâm Mai-Hòa gợi lên cho tôi sự hoang dại của kiếp sống, cũng như số kiếp của những bệnh nhân ở đây.

Lời Kinh Của Người Đau Khổ” (Paradoxes of Prayers) trong sách LKĐNTNK (trang 70-71) đã gói ghém trọn vẹn tâm tình của tôi trong giờ phút suy tư đó:
 
    “Lạy Chúa,
Con cầu xin ơn mạnh mẽ
để thành đạt trong cuộc đời,
Chúa lại làm cho con ra yếu ớt
để biêt vâng lời khiêm hạ…
 
Con cầu xin có sức khỏe
để mong thực hiện những công trình lớn lao,
Chúa lại cho con chịu tàn tật
để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành…
 
Con cầu xin được giàu sang
để sống sung sướng thoải mái,
Chúa lại cho con nghèo nàn
để học biết thế nào là khôn ngoan…
 
Con cầu xin được có uy quyền
để mọi người phải kính nể ca ngợi,
Chúa lại cho con sự thấp hèn
để con biết con cần Chúa…
 
Con xin gì cũng chẳng được theo ý muốn.
Nhưng những điều con đáng phải mơ ước,
mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin,
thì Chúa lại đã ban cho con
thật dư đầy từ lâu…
 
Lạy Chúa,
hóa ra, con lại là người hơn hết trên đời nầy,
bởi con đã nhận được ơn Chúa vô vàn…”
 
Trong lúc chờ đợi cha Chung, tôi ngồi đắm mình trong suy tư như thế trên một ghế đá do một ngôi chùa trao tặng – trong cả chục chiếc ghế như thế được nhiều ân nhân khác trao tặng Trung Tâm.
 
Sau khi hoàn tất hồ sơ bệnh lý, cha Chung dân tôi đi thăm nhà quàng của Trung Tâm, mà phía ngoài một bức tường được dựng lên, có ngăn nhiều ô nhỏ để giữ tro tàn những bệnh nhân đã vĩnh viễn ra đi, nhưng không có thân nhân thừa nhận. Những tro tàn đó được chứa đựng trong những cái quách nhỏ với một tấm hình gắn lên bên ngoài.
 
Trong số gần trăm cái quách đó, tôi để ý đến mấy em rất trẻ, khoảng đôi mươi – trai cũng như gái – mới từ giã cuộc đời gần đây thôi. Trông hình các em rất xinh! Lòng tôi quặng đau. Nếu không vì tai họa của bệnh AIDS thì đời các em đẹp biết bao!
 
Trong khi tôi đang miên man nghĩ ngợi, bỗng nhìn xuống đám cỏ xanh trên mặt đất, phô bày đó đây mấy “bông hoa mười giờ”. Câu hát kết thúc bài ca Hoa Mười Giờ “em thương phận con gái như hoa mười giờ nở chỉ đẹp giây phút ban đầu!” khiến tâm hồn tôi càng thêm não nuột tái tê. “Phút ban đầu” của các em quá vắn vỏi và đầy đau thương! Thật đúng là “Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.” (Đoạn Trường Tân Thanh).
 

Hoa mười giờ
 
Cha Chung chỉ vào hình một cô gái khoảng ba mươi tuổi. Cha cho biết là chị được chồng chuộc ra khỏi một động mãi dâm ở Kampuchia. Nhưng về sau chị bị AIDS và đồng thời cũng phát hiện ra ông chồng bị lây luôn. Những thảm cảnh như thế nầy không bút mực nào có thể diễn tả được.
 
Trên đường về
 
Trong khi cha Chung và tôi sửa soạn ra về thì một em thiếu niên bệnh nặng đang hấp hối. Ba của em và bà nội vào thăm viếng em lần cuối. Lâu lâu vì không thể chịu đựng được cảnh đau lòng nầy, người cha ra ngoài, châm điếu thuốc lá, đứng nhìn trời mây mà ứa nước mắt.
 
Lúc đó cha Chung đi ngang qua và buột miệng nói với tôi là trong tình huống nầy, cha cũng không thể làm gì hơn được. Câu nói của cha Chung cho tôi thấy sự bất lực của con người khi phải đối diện với tử thần. Xét về một phương diện nào đó, cái chết trong trường hợp nầy là con đường giải thoát duy nhất cho những người chẳng may mắc phải tai họa nầy.
 
Sau khi chạy honda ra khỏi Củ Chi để vào xa lộ trở về Sàigòn, cha Chung quay lại hỏi tôi có buồn ngủ không. Thật tình tôi không buồn ngủ mà chỉ lo cho cha Chung đã mất giấc nghỉ ban trưa và bây giờ phải cố tỉnh thức để lái honda trên 45 cây số nữa.
 
Lời nguyện của chị Véronique
 
Lúc bấy giờ nền trời âm u, mây đen vần vũ, nhưng may mắn là không đổ mưa. Nhìn những đám ruộng “nửa vàng nửa xanh” hai bên vệ đường, tôi liên tưởng đến cảnh chết chóc đang xảy ra tại Trung Tâm Mai-Hòa. Các bệnh nhân cho biết: chỉ trong tuần lễ trước đây, hung thần Aids đã cướp đi bảy sinh mạng và trong tuần nầy cũng phải một hai mạng người nữa.
 
Khi tâm tư tôi bị dằn vặt bởi những ưu tư liên quan đến những cái chết quá đau thương cũng như đoạn chót cuộc đời đầy đau khổ của những bệnh nhân ở Trung Tâm Mai Hòa, tôi bỗng đưa tâm hồn lên để quyện lòng mình với chị Véronique qua “LỜI NGUYỆN” của chị được ghi lại trên tạp chí Prier, xuất bản năm 1979 (sách LKĐNTNK, trang 13-16):
 
Chị Véronique là một người Pháp, tính đến năm 1979, được 58 tuổi, với 55 năm bị mắc bệnh phong Hansen, 20 năm bị mù lòa, nhưng chị vẫn làm việc trong một xí nghiệp sản xuất đồ dùng của người bệnh phong Hansen tại nước Cameroun, châu Phi.
 
    “Lạy Chúa,
Chúa đã đến và đã xin con tất cả,
và con, con cũng đã hiến dâng cho Chúa tất cả.
Xưa kia, con ưa thích đọc sách,
và Chúa đã muốn mượn đôi mắt của con.
Ngày trước, con thích chạy nhảy trong những khu rừng thưa,
và Chúa đã mượn đôi chân của con.
Mỗi độ xuân về,
con tung tăng hái lượm những cánh hoa tuơi,
và Chúa lại xin con đôi tay.
Bởi con là một phụ nữ,
con ưa nhìn suối tóc óng ả của con,
thế mà giờ đây,
đầu con hầu như chẳng còn sợi tóc nào,
cũng chẳng còn đâu,
những ngón tay hồng xinh xắn nữa,
chỉ còn lại một vài que củi khô queo nham nhúa.
 
Chúa ơi, Chúa hãy nhìn xem:
Cái thân thể diễm kiều của con đã bị hủy hoại đến độ nào.
Thế nhưng, con không hề muốn nổi loạn,
con lại muốn dâng lên Chúa lời tạ ơn.
 
Vâng, lạy Chúa,
muôn đời con sẽ xin thưa hai chữ tạ ơn,
bởi vì, nếu đêm nay,
Chúa truyền cho con phải ra đi vĩnh biệt cõi thế,
con cũng sẽ chẳng tiếc hận gì.
 
Đời con đã được quá ư đầy tràn diệu kỳ tột độ:
Đó là con đã được sống
đắm mình trong Tình Yêu,
đã được Chúa lấp đầy
chan chứa bằng Tình Yêu,
vượt quá cả những gì tim con hằng mong ước.
Ôi lạy Chúa là Cha của con.
Cha đã đối xử quá tốt với bé gái Véronique của Cha.
 
Và chiều nay, ôi Tình Yêu của con,
con xin dâng lời nguyện thiết tha,
cho tất cả mọi người phong cùi trên mặt đất,
xin Cha thương một cách đặc biệt,
cả đến những người bị bệnh “cùi tâm hồn”
đang đè bẹp hủy hoại,
con yêu thương đặc biệt những con người bất hạnh ấy.
 
Và chiều nay, trong âm thầm,
con xin tận hiến đời con cho họ,
bởi vì họ cũng là những người anh chị em con.
 
Ôi lạy Cha, Tình yêu của con,
con xin dâng Cha
căn bệnh phong cùi thân xác của con,
để cho những người thân yêu kia
đừng bao giờ biết đến nữa
cái đắng cay, cái lạnh lẽo kinh hồn
của căn bệnh “cùi tâm hồn”.
 
Con là bé gái thân thương của Cha,
Cha ơi, hãy nắm lấy bàn tay
đã tàn phế của con để dẫn con đi,
như người mẹ hiền
dắt tay đứa con gái cưng của mình.
 
Cha hãy ôm con vào lòng,
như người cha ấp ủ đứa con cưng
trong vòng tay của mình.
Cha hãy nhận chìm con sâu xuống tận đáy trái tim Cha,
cho con được ở đấy
cùng với mọi người thân yêu của con,
bây giờ và cho đến mãi muôn đời…Amen

Tác giả bài viết: Đỗ Tân Hưng AN49

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Đang truy cập86
  • Máy chủ tìm kiếm12
  • Khách viếng thăm74
  • Hôm nay24,184
  • Tháng hiện tại1,085,723
  • Tổng lượt truy cập25,892,054
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây