Hương Vĩnh - Sau Ba Thập Niên. Phần 1.

Thứ hai - 14/07/2014 10:58

-

-
Vào trung tuần tháng bảy năm 2004, tôi đã thực hiện một chuyến viếng thăm Việt-Nam – hay nói đúng hơn là một cuộc HÀNH HƯƠNG TRỞ VỀ ĐẤT MẸ – sau gần ba thập niên sinh sống trong một đất nước tạm dung.
Hương Vĩnh - Sau Ba Thập Niên. Phần 1.
 
Cố linh mục Trần Cao Tường 15/8/1946 – 21/11/2010, người chủ trương trang mạng Dũng Lạc
Vào trung tuần tháng bảy năm 2004, tôi đã thực hiện một chuyến viếng thăm Việt-Nam – hay nói đúng hơn là một cuộc HÀNH HƯƠNG TRỞ VỀ ĐẤT MẸ – sau gần ba thập niên sinh sống trong một đất nước tạm dung. Tôi mong “tìm lại hình ảnh những con chim Việt, xác tín về căn tính nguồn gốc của mình để có hùng khí theo Mẹ Tiên chim Âu bay về núi” (linh mục Trần Cao Tường).
 
Trứng Rồng lại nở ra rồng,
     liu điu lại nở ra dòng liu điu.
Trứng Rồng lại nở ra rồng,

     chim Tiên lại đẻ ra dòng chim tiên. 

I.- THÀNH PHỐ SÀIGÒN
 
Khi máy bay bắt đầu đi vào không phận Việt Nam, nhìn qua khung cửa sổ, miền Nam nước Việt thân yêu bắt đầu xuất hiện một cách lờ mờ, tôi liên tưởng tới đoạn văn sau đây trong sách “Tiếng Thì Thầm Và Lời Đáp Trả  (TTTVLĐT)” của Eileen Cady (Bản Dịch, trang 349):
 
Người ta cho tôi thấy Trái Đất giống như một bàn cờ, có những ô vuông to lớn vẽ màu đen và trắng. Bởi vì trời mưa nên thuốc vẽ màu đen chảy qua màu trắng, và tất cả trở thành một màu xám dơ bẩn. Rồi một cơn mưa to hơn nữa đổ xuống, và tất cả lại biến thành một màu trắng tinh truyền.
 
Tôi nghe có tiếng nói: Con hãy có niềm tin! Hãy đứng vững và biết rằng Trái Đất và tất cả những gì nó mang trên mình đang qua một quá trình tẩy rửa. Mọi sự đều rất, rất tốt, bởi tất cả đều thông qua theo kế hoạch của Cha. Con hãy an toàn sống trong bình an.”
 
Phải chăng đó là tiến trình thanh tẩy mà quê hương Việt-Nam chúng ta đã và đang trải qua.
 

Phi trường Tân Sơn Nhất
 

Trong những chuyến phi hành từ trước tới nay của tôi thì đây là chuyến bay lâu nhất, nếu tính luôn thời gian chuyển đổi máy bay mấy tiếng đồng hồ ở Manila, cũng mất khoảng hai mươi giờ.
 
Khi máy bay bắt đầu đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, điều ngạc nhiên trước tiên đối với tôi là không thấy cảnh tượng máy bay nối đuôi nhau lên xuống như những phi trường quốc tế khác. Cảnh vắng lặng của phi trường Tân Sơn Nhất tương ứng với quang cảnh êm ả hiền hòa của những đồng ruộng bao quanh vùng đó.
 
Trung tâm thành phố Sàigòn
 

Thành Phố Sàigòn
 
Từ phi trường về trung tâm thành phố Sàigòn, những con đường quen thuộc mà ba mươi năm trước đây tôi đã qua lại nhiều lần, nay hoàn toàn đổi mới: mặt đường được nới rộng ra, nhà cửa xây cất thêm hay tân trang một cách thiếu trật tự, không theo một mô hình nào. Thêm vào đó hầu hết các con đường đều được đổi tên nên rất khó nhận diện.
 
Ngoài ra cảnh tượng trăm ngàn xe gắn máy chen chúc nhau chạy ngược chạy xuôi như mắc cửi – theo lối nói của giới taxi ở đây là “mạnh ai nấy chạy”, chỉ khi nào đụng nhau, công an mới lại làm biên bản mà thôi! 

 

Cảnh người và xe cộ tấp nập về đêm
ở Sàigòn
 
Sàigòn cũng như vài thành phố lớn mà tôi có dịp thăm viếng về sau, như Sa-Đéc, Vũng Tàu, Nha-Trang…trông có vẻ sầm uất, nhưng những vùng ngoại ô bao quanh các thành phố đó thì vẫn nghèo nàn, cuộc sống người dân quá lam lũ.
 
Ngay ở Sàigòn, ngoài những con đường chính mà xe cộ qua lại tấp nập, người buôn kẻ bán nhộn nhịp thì trong những đường hẻm bày ra cảnh tượng buôn thúng bán bưng của những người dân quê kéo lên thành thị kiếm sống. Họ là những người thật lam lũ, rất đáng thương.

 

Một hẻm ở Sàigòn
 
Xã hội đầy mâu thuẫn
 
Nói chung, xã hội Việt-Nam hiện nay là một xã hội đầy MÂU THUẪN về mọi phương diện. Đành rằng xã hội nào cũng chất chứa nhiều mâu thuẫn, nhưng xã hội Việt-Nam mang nhiều nét đậm đà hơn.

Ngoài một thiểu số giàu có do thời cuộc chính trị hoặc buôn bán kinh doanh phát đạt…hiện đang nảy sinh một giai cấp tiểu tư sản mới mà ước vọng của họ là làm sao con em được học những trường nổi tiếng, theo những lớp dạy tư, để trau dồi kiến thức và sinh ngữ, nhất là Anh văn… mong rằng rồi đây dành dụm được một số tiền khá lớn, cho con cái xuất ngoại du học.
 
Bên cạnh những giai cấp trên thì đại đa số dân chúng suốt ngày đầu tắt mặt tối để kiếm sống mà không đủ sống. Đứng trước tương lai mù mịt, sự tiết kiệm chẳng mang lại hứa hẹn nào nên chút “tiền còm” sót lại sau một ngày chạy ngược chạy xuôi tần tảo đều được nướng hết vào những quán nhậu, những quán cà-phê…mọc lên như nấm suốt hai bên lề đường. 

 

Một quán nhậu ở ven đường Sàigòn
 
Những người túi tiền đầy ắp thì ăn uống tại những quán xá sang trọng đắt tiền. Nói chung, mọi người đều đua nhau hưởng thụ tùy theo túi tiền của mình. Xem ra một xã hội mà đại đa số dân chúng không để ý tới ngày mai, chỉ lo hưởng thụ cho giây phút hiện tại, thay vì tiết kiệm để đầu tư hay kinh doanh.
 
Trong khi đại đa số dân chúng da dẻ sạm nắng vì cuộc sống lam lũ thì một thiểu số “anh thư khuê các” không bao giờ ra đường trong ngày để giữ nước da trắng trẻo nõn nà. Khi cần xê dịch vì nhu cầu bơi lội, tập thể thao, hoặc những dịch vụ khác… họ được đưa đón bởi những xe hơi đắt tiền từ nhà đến điểm hẹn hay ngược lại.
 
Muốn chiêm ngưỡng dung nhan những anh thư khuê các đó, phải đợi về đêm khi họ hẹn hò nhau trong các tiệm ăn sang trọng, hay trong những phòng trà ca nhạc như “M và tôi”, “Queen Bee”, “Trung Tâm Lan Anh”, Phòng Trà ATB v.v.…Lúc đó những nàng tiên giáng trần sẽ múa những vũ khúc “Nghê Thường” của thời đại rất ngoạn mục. 

 

Phòng trà ATB

Một đặc điểm chung rất ấn tượng là hầu hết người dân trong nước không còn sử dụng những từ ngữ “cám ơn” hay “xin lỗi” rất thông dụng trước 1975. Khi nhận quà tặng bằng hiện kim hay hiện vật của bà con hay bạn bè thân quen từ ngoại quốc về thăm, họ chỉ biết nhận mà không hề nói lên hai tiếng “cám ơn”, mặc dù họ là những người trí thức đi nữa. Đi đường, nếu có ai vấp phải mình, họ chỉ biết nhìn mà không hề mở miệng nói hai tiếng “xin lỗi”. Những người sống ở ngoại quốc lâu năm rất ngạc nhiên về thái độ đó. 
 
Thực trạng xã hội Việt Nam
 
Đó là bức tranh xã hội Việt-Nam hiện nay mà tôi đã chứng kiến. Bài thơ “Vì Bên Con Còn…” của Myrtle Householder ghi chép trong sách “Lời Kinh Đẹp Nhất Thiên Niên Kỷ” (LKĐNTNK, trang 25) đã gói ghém trọn vẹn tâm tình của tôi trong thời gian thăm viếng đó:

 
    “Lạy Chúa,
Con được no nê mà vẫn thiếu ăn,
     vì bên con còn người đói lả.
Con uống nước mát mà họng vẫn khô ran,
     vì bên con còn có người đang khát.
Con vui cười mà nước mắt tuôn rơi,
     vì bên con còn có người phiền muộn.
Con sáng mắt mà vẫn ở trong bóng đêm,
     vì bên con còn có người mù tối.
Con mặc áo đẹp mà vẫn rách tả tơi,
     vì bên con còn có người trần trụi.
Con nằm trong nệm êm mà vẫn thao thức,
     vì bên con còn bao người thiếu thốn.
 
II.- TIỀN LÀ TIÊN LÀ PHẬT
 
Cướp giựt trên hè phố
 
Đối với giới trẻ – nam cũng như nữ – khi màn đêm buông xuống là lúc các cô cậu đua nhau xe gắn máy trên các đường phố rồi hẹn hò nhau tại những quán kem hay quán cà-phê nằm trên vỉa hè các đường phố dọc theo bờ sông Sàigòn.
 
Vào một đêm trời nóng nực, tôi tản bộ dọc theo Bến Chương Dương, rồi ghé một quán nước bên lề đường thưởng thức một ly kem lạnh. Trong khi đang nhìn dòng xe gắn máy chạy ngược chạy xuôi như thác lũ, bỗng trên vỉa hè bốn năm tiểu thư – có lẽ là Việt kiều – vì chưa quen với sinh hoạt ở đây, cô nào cô nấy vẫn thản nhiên mang xách tay trên vai. Nhanh như chớp một chiếc honda từ ngoài đường lao vào để giựt xách tay của một cô, nhưng chẳng may đụng phải một cậu bé đang đứng đón khách ăn kem. Cậu té xuống mặt đường, gãy tay, nằm sóng soải, còn chiếc honda kia vụt chạy mất, nhanh như tên bắn.
 
Một hoài niệm bên sông Sàigòn
 
Nhìn cảnh tượng đó tôi bỗng nhớ lại một vụ cướp giựt to lớn khác, đã được mô tả lại trong một bài báo năm xưa, liên quan đến bến sông Sàigòn. Vào khoảng năm 1965, ông Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Trong chiến dịch diệt trừ gian thương, tướng Kỳ đã kết án tử hình tỉ phú Tạ Vinh vì tội đầu cơ tích trữ sắt thép.

 

Chợ Bến Thành
 
Trước ngày ra pháp trường ở chợ Bến Thành, một phóng viên báo chí được vào trong tù phỏng vấn và tử tội Tạ Vinh đã thổ lộ tâm tình như sau: “Từ trước tới nay, tôi cứ tưởng đồng tiền là trên hết. Đêm ngày tôi chỉ lo buôn bán để kiếm thật nhiều tiền. Bây giờ tôi mới biết đồng tiền là vô nghĩa.
 
Đáp câu hỏi về ước mơ gì trong lúc nầy, Tạ Vinh trả lời: “Ước mơ gì đây? Tôi chỉ có một mơ ước nho nhỏ là được mặc một bộ đồ bà ba trắng, tản bộ dọc bờ sông Sàigòn, rồi cùng với bạn bè vào một quán nhậu gần đó, ngồi đấu láo, nói những chuyện trên trời dưới biển. Mong trong túi có vài chục bạc, mua một ít thịt pha lấu về nhà ăn với vợ con…” Đó là ước mơ của một tỉ phú Việt-Nam vào thời điểm 1965, khi phải đối diện với tử thần.

 

Pháp trường cát ở chợ Bến Thành 1965
 
Chính khi Tạ Vinh mất tất cả thì ông lại được tất cả vì ông đã được linh mục Phùng Quang Mạnh – cha sở giáo xứ Gia-Định lúc bấy giờ – dạy giáo lý và ban bí tích Thánh Tẩy. Khi ra pháp trường để phải gục ngã trước họng súng, Tạ Vịnh tâm sự với linh mục Phùng Quang Mạnh là ông đã bị kết án oan ức. Linh mục Mạnh cho biết là trước đây hai mươi thế kỷ đã có một người cũng bị kết án tử hình một cách oan uổng, đó là Chúa Giêsu Kitô. Do đó Tạ Vịnh đã bằng lòng chấp nhận số phận.

 

Linh mục Antôn PHÙNG QUANG MẠNH 1922 – 2004

Đức nghèo khó của linh mục
 
Vào Chúa nhật tuần lễ đầu tiên ở Sàigòn, tôi đã tham dự Thánh lễ lúc 9 giờ sáng tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng. Đó là Thánh lê Tạ Ơn của một tân linh mục dòng Chúa Cứu Thế nhưng hoạt động mục vụ tại quê nhà là giáo phận Vinh. Vị linh mục thuyết giảng hôm đó đã phác họa những khó khăn mà các linh mục phải đương đầu: Đó là “khi theo Chúa Giêsu thì các linh mục đã đoan hứa sẽ bỏ tât cả, nhưng trong đời sống linh mục thì lại được tất cả và còn được nhiều hơn.”

Cha cho biết mỗi kỳ cấm phòng chung tại Dòng Chúa Cứu Thế, đã có những linh mục đấm ngực, khóc lóc và sám hối với tất cả cộng đoàn anh em vì đã lỗi đức khó nghèo.

 

Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam – Tu viện Sài Gòn

Để kết thúc bài giảng, linh mục đó đã trích dẫn bài thơXin dùng con theo ý Chúacủa linh mục Nguyễn Công Đoan, dòng Tên, như là những nét chấm phá cho đời sống mục tử:
 
    “Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa,
làm chân tay cho người què cụt,
làm đôi mắt cho ai đui mù,
làm lỗ tai cho người bị điếc,
làm miệng lưỡi cho người không nói được,
làm tiếng kêu cho người chịu bất công.
 
      Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa,
để đem cơm cho người đói đang chờ,
và đem nước cho người họng đang khô,
đem thuốc thang cho người đang đau ốm,
đem áo quần cho người đang trần trụi,
đem mền đắp cho người rét đang run.
 
Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đường vắng,
thắp đèn soi cho ai bước trong đêm,
đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh,
truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi,
nâng phẩm giá cho kẻ đời chà đạp,
đem tự do cho những kiếp đọa đày.
 
Lạy Chúa, xin cứ gởi con vào thôn xóm,
đem an hòa cho những ai bât thuận,
đem thanh bình cho kẻ sống âu lo,
đem ủi an cho người đang sầu khổ,
đem niềm vui cho những ai bất hạnh,
đem vận may cho người gặp rủi ro.
 
Lạy Chúa, xin cứ dùng con làm tất cả,
cho mọi người được hạnh phúc an vui,
còn phần con, xin gởi hết nơi Ngài,
là Thiên Chúa, là tình yêu, là lẽ sống,
Ngài cho con tất cả niềm hy vọng,
để tin yêu mà vui sống trọn đời.
 
Như vậy vì đồng tiền mà Tạ Vinh đã trở thành tử tội. Cũng vì đồng tiền mà đã xảy ra những cảnh cướp giựt nhan nhản mỗi ngày mỗi đêm trên các đường phố. Và cũng vì đồng tiền mà nhiều linh mục đã vấp ngã, lỗi lời Khấn Khó Nghèo, làm hoen ố bộ mặt thật của Chúa Kitô.

HƯƠNG VĨNH (Đỗ Tân Hưng AN49)

(Còn tiếp)

 

Tác giả bài viết: Đỗ Tân Hưng AN49

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Đang truy cập97
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm95
  • Hôm nay20,235
  • Tháng hiện tại682,746
  • Tổng lượt truy cập18,111,574
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây