
ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA ĐỨC HỒNG Y VĂN THUẬN NHƯ TRƯỜNG HỌC CHO LINH MỤC TRẺ, NGƯỜI ĐAU KHỔ, NGƯỜI ĐANG KHỦNG HOẢNG ĐỨC TIN, VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC “CHỌN CHÚA CHỨ KHÔNG CHỈ CHỌN CÔNG VIỆC CỦA CHÚA”
Chúng ta được mời gọi bước sâu hơn nữa vào chính thế giới bên trong của Đức Hồng y Văn Thuận. Bởi vì nếu chỉ nhìn ngài từ bên ngoài, chúng ta sẽ thấy một con người chịu đựng phi thường. Nhưng nếu đi vào đời sống nội tâm của ngài, chúng ta sẽ khám phá điều còn sâu hơn: đó là một con người đã để cho Thiên Chúa làm chủ trái tim mình đến mức ngay cả những vùng tối nhất cũng trở thành nơi của ân sủng. Và chính ở đây, đời ngài không chỉ là gương sáng, mà là một trường học. Một trường học cho linh mục trẻ. Một trường học cho người đau khổ. Một trường học cho người đang khủng hoảng đức tin. Một trường học cho bất cứ ai muốn hiểu điều đó nghĩa là gì khi nói: chọn Chúa, chứ không chỉ chọn công việc của Chúa.
Thật ra, có một khác biệt rất lớn giữa một con người chỉ có vẻ đạo đức bên ngoài và một con người thật sự có đời sống nội tâm sâu. Người thứ nhất có thể làm nhiều việc tốt, có thể nói rất hay, có thể sống nề nếp, có thể tạo ảnh hưởng, có thể được ngưỡng mộ, nhưng khi biến cố lớn xảy ra, họ dễ đổ vỡ. Người thứ hai có thể không ồn ào, không phô trương, không bề ngoài rực rỡ, nhưng vì cắm rễ sâu trong Thiên Chúa, nên khi bão tố đến, họ vẫn đứng vững. Đức Hồng y Văn Thuận thuộc về hạng người thứ hai. Đời sống nội tâm nơi ngài không phải là một lớp trang trí đạo đức phủ trên một cuộc đời năng động. Nó là nền móng. Là trung tâm. Là nơi quyết định mọi sự. Chính đời sống nội tâm ấy đã giữ ngài lại khi mọi điểm tựa bên ngoài bị lấy mất.
Nói đến đời sống nội tâm là nói đến một thế giới mà không ai thấy hết được. Ở đó có những cuộc chiến âm thầm. Có những đêm dài không ai biết. Có những giọt nước mắt không ai nhìn thấy. Có những câu hỏi không nói ra thành lời. Có những giằng co chỉ Chúa với mình biết. Có những khoảnh khắc đức tin tưởng như rất yếu. Có những cơn cám dỗ của chán nản, của tuyệt vọng, của buông xuôi. Và chính trong những chiều sâu không ai nhìn thấy ấy, một con người hoặc dần trưởng thành trong ân sủng, hoặc dần gục ngã trong bóng tối. Đức Hồng y Văn Thuận đã trưởng thành chính ở nơi đó. Ngài không chỉ chịu đựng bên ngoài, mà còn âm thầm chiến đấu bên trong. Và ngài thắng không phải nhờ khí chất tự nhiên, mà nhờ gắn bó với Chúa rất thật.
Đây là điều rất quan trọng cho linh mục trẻ hôm nay. Bởi vì đời linh mục dễ bị cuốn vào bề mặt. Rất dễ. Có biết bao việc phải làm. Hết lễ đến họp. Hết dạy giáo lý đến giải tội. Hết lo mục vụ đến thăm bệnh. Hết chuyện giáo xứ đến chuyện xây dựng. Hết chuẩn bị bài giảng đến tiếp khách, điều hành, tổ chức, kết nối, hiện diện. Những thứ ấy đều cần. Nhưng nếu linh mục trẻ không xây đời mình trên một nền nội tâm sâu, thì càng về sau càng có nguy cơ kiệt sức, cay đắng, khô khan hoặc sống bằng quán tính. Có thể vẫn làm mọi việc, nhưng không còn lửa. Có thể vẫn chu toàn, nhưng bên trong thiếu Chúa. Có thể vẫn nói về Thiên Chúa, nhưng không còn thật sự ở với Thiên Chúa.
Đức Hồng y Văn Thuận dạy cho linh mục trẻ điều đầu tiên này: đừng để công việc mục vụ nuốt mất đời sống nội tâm. Một linh mục có thể giảng rất nhiều về cầu nguyện mà chính mình không cầu nguyện sâu. Có thể nói rất nhiều về phó thác mà lòng mình đầy lo âu. Có thể kêu gọi giáo dân sống kết hiệp với Chúa mà bản thân mình lại sống phân tán, bị kéo căng, thiếu lặng thinh, thiếu chiêm niệm. Khi còn trẻ, người ta dễ nghĩ rằng sức lực là vô tận, rằng cứ làm trước rồi đời sống thiêng liêng tính sau. Nhưng chính Đức Hồng y Văn Thuận nhắc rằng nếu không có đời sống nội tâm, tất cả những gì bên ngoài dù tốt đẹp đến đâu cũng khó bền. Một đời linh mục không được giữ bằng hiệu quả, mà được giữ bằng tương quan thân tình với Chúa.
Có lẽ điều mà các linh mục trẻ cần học nơi ngài không chỉ là lòng quảng đại, mà là nghệ thuật ở lại với Chúa trong mọi hoàn cảnh. Khi được sai đi, ở với Chúa. Khi bị cắt ngang, cũng ở với Chúa. Khi thành công, ở với Chúa. Khi thất bại, cũng ở với Chúa. Khi được yêu mến, ở với Chúa. Khi bị hiểu lầm, cũng ở với Chúa. Khi có nhiều việc, ở với Chúa. Khi chẳng còn việc gì rõ ràng để làm, cũng ở với Chúa. Đó là cốt lõi. Vì ơn gọi linh mục trước hết không phải là làm một nghề đạo đức, mà là thuộc về Đức Kitô. Một linh mục chỉ thật sự sống đúng căn tính của mình khi điều sâu nhất nơi lòng ngài là: con là của Chúa.
Ở đây, ta bắt đầu chạm đến câu nói rất nổi tiếng và rất đau của Đức Hồng y Văn Thuận: “Con chọn Chúa hay con chọn công việc của Chúa?” Câu hỏi ấy nghe đơn sơ, nhưng thực ra là một lưỡi dao mổ sâu vào tim. Vì nhiều khi, ngay cả trong đời tu, người ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra lại yêu công việc mình làm cho Chúa. Người ta gắn bó với vai trò của mình. Người ta gắn bó với việc được hiện diện, được dùng đến, được người khác nhìn nhận. Người ta gắn bó với hiệu quả, với ảnh hưởng, với chỗ đứng, với cảm giác mình quan trọng. Và rồi đến khi một biến cố nào đó lấy đi tất cả, người ta không chỉ đau vì mất công việc, mà còn thấy như chính mình bị mất. Chính lúc ấy mới lộ ra: lâu nay mình bám vào Chúa hay bám vào việc của Chúa?
Câu hỏi ấy không chỉ dành cho Đức Hồng y Văn Thuận. Nó dành cho từng người chúng ta. Một giáo lý viên có thể rất nhiệt thành, nhưng đến lúc không còn được dạy nữa thì nguội lạnh hẳn. Một người phục vụ ca đoàn có thể quảng đại lắm, nhưng đến lúc không còn được đứng vị trí quen thuộc thì tự ái và rút lui. Một người trong hội đoàn có thể rất sốt sắng, nhưng khi bị góp ý thì bỏ luôn việc đạo. Một linh mục có thể hết lòng với giáo xứ, nhưng nếu một ngày vì bệnh tật hay hoàn cảnh mà không còn hoạt động được như xưa, thì tâm hồn có giữ được bình an không? Những phản ứng ấy bộc lộ rất nhiều. Đức Hồng y Văn Thuận đã bị đẩy vào tận cùng của câu hỏi ấy, và ngài đã để cho câu hỏi ấy thanh luyện mình.
Chọn Chúa nghĩa là gì? Nghĩa là khi còn làm được việc của Chúa, mình làm với tất cả tình yêu. Nhưng nếu Chúa lấy lại những việc ấy, mình vẫn thuộc về Người. Nghĩa là khi còn được phục vụ, mình phục vụ hết lòng. Nhưng nếu không còn phục vụ như trước, mình không đánh mất căn tính. Nghĩa là niềm vui của mình không hệ tại ở chỗ mình hữu ích theo tiêu chuẩn bên ngoài, mà ở chỗ mình được ở trong Chúa. Nghĩa là khi mọi thành quả sụp xuống, mình vẫn còn Chúa. Và nếu còn Chúa, thì chưa mất điều gì cốt lõi nhất.
Đây là một bài học quá lớn cho người đau khổ. Vì đau khổ có một sức mạnh rất lạ: nó lột trần đời ta. Khi mọi sự bình thường, ta vẫn có thể sống được nhờ thói quen, nhờ công việc, nhờ các mối quan hệ, nhờ nhịp sống thường ngày. Nhưng khi đau khổ ập đến, mọi thứ như bị kéo ra. Một cơn bệnh có thể cắt ngang những dự tính. Một biến cố gia đình có thể làm ta mất thăng bằng. Một cái chết của người thân có thể làm cả thế giới bên trong ta rung chuyển. Một thất bại lớn có thể khiến ta nhìn lại tất cả. Và chính lúc ấy, đời sống nội tâm trở nên quyết định. Nếu bên trong có Chúa, ta sẽ đau nhưng không tuyệt vọng. Nếu bên trong không có Chúa thật, ta rất dễ tan.
Đức Hồng y Văn Thuận là trường học cho người đau khổ chính vì ngài không phủ nhận đau khổ. Ngài không tô màu lên đau khổ. Ngài không biến đau khổ thành chuyện nhỏ. Nhưng ngài cũng không để đau khổ định nghĩa hết con người mình. Ngài đau, nhưng không để đau khổ làm ngài cay đắng. Ngài cô đơn, nhưng không để cô đơn làm ngài khép lòng. Ngài bị tước đoạt, nhưng không để mất mát làm ngài mất đức tin. Ngài bị thử thách, nhưng không để thử thách cướp mất sự dịu dàng của tâm hồn mình. Đây là điều kỳ diệu. Và cũng là bài học mà người đau khổ hôm nay cần học.
Có những người đau khổ rồi trở nên gắt gỏng. Có những người đau khổ rồi nghi ngờ Chúa. Có những người đau khổ rồi chỉ còn nói về nỗi đau của mình. Có những người đau khổ rồi sống như thể cả thế giới nợ mình điều gì đó. Điều đó rất người, nhưng không phải là con đường trưởng thành thiêng liêng. Đức Hồng y Văn Thuận dạy rằng đau khổ có thể trở thành nơi gặp Chúa sâu hơn. Không phải vì đau khổ tự nó là tốt, nhưng vì trong đau khổ, mọi ảo tưởng bị rơi xuống, và con người được mời gọi dựa hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nơi mà trước đây ta còn nương vào sức riêng, vào kế hoạch riêng, vào ảnh hưởng riêng, vào người khác, thì giờ đây ta chỉ còn Chúa. Và chính ở chỗ chỉ còn Chúa ấy, đời sống nội tâm bắt đầu chạm đến chiều sâu mà ngày bình thường khó chạm.
Một người mẹ mất con, nếu chỉ nhìn bằng lý trí loài người, sẽ thấy như thế giới sụp đổ. Một người chồng mất vợ, một người vợ bị phản bội, một người bệnh nằm dài nhiều năm, một người cha gánh nợ, một người trẻ mất phương hướng, tất cả những hoàn cảnh ấy đều có thể trở thành vực sâu. Nhưng đời Đức Hồng y Văn Thuận nói với họ rằng có một con đường khác: đừng để đau khổ là nơi chôn chết linh hồn mình; hãy để nó là nơi mình học bám lấy Chúa hơn. Điều đó không dễ. Và không phải một ngày là làm được. Nhưng đó là con đường của các thánh. Con đường của những người không để thập giá biến họ thành đá, nhưng để thập giá làm họ nên bánh bẻ ra.
Nơi Đức Hồng y Văn Thuận, người đang khủng hoảng đức tin cũng có thể tìm thấy một trường học. Vì khủng hoảng đức tin không phải lúc nào cũng là chuyện bỏ đạo công khai. Nhiều khi khủng hoảng đức tin là một đêm rất âm thầm. Là khi người ta vẫn đi lễ mà lòng trống rỗng. Vẫn cầu nguyện mà cảm thấy khô như đá. Vẫn giữ bổn phận mà trong lòng không còn cảm được Chúa. Vẫn đọc kinh mà như những lời ấy không chạm được lên trời. Có người sống nhiều năm trong trạng thái ấy. Có người giấu rất kỹ. Có người cười nói bình thường nhưng trong lòng thì mịt mù. Có người không dám nói ra vì sợ bị đánh giá là yếu đức tin. Nhưng thật ra, rất nhiều người đang đi qua một cuộc khủng hoảng như thế.
Điều làm cho đời Đức Hồng y Văn Thuận trở nên quý với họ là vì ngài không rao giảng đức tin từ một chỗ dễ dàng. Ngài đã sống đức tin trong hoàn cảnh không có nhiều an ủi bên ngoài. Ngài đã bám lấy Chúa không phải vì Chúa làm cho mọi thứ sáng tỏ ngay, nhưng vì ngài quyết tin rằng Chúa vẫn hiện diện ngay cả khi không cảm thấy gì. Đây là điểm rất sâu. Đức tin trưởng thành không chỉ là cảm thấy Chúa, nhưng là chọn ở lại với Chúa ngay cả khi mọi cảm giác tôn giáo dường như vắng bóng. Nhiều người nhầm rằng khi cầu nguyện không sốt sắng, không xúc động, không có cảm nghiệm rõ ràng, thì chắc Chúa đã bỏ mình. Không phải vậy. Có những giai đoạn Chúa để đức tin đi vào sa mạc để được tinh luyện khỏi chỗ bám vào cảm giác.
Đức Hồng y Văn Thuận dạy người đang khủng hoảng đức tin rằng: trong đêm tối, đừng ngưng bám vào Chúa. Dù lòng không cảm được gì, cứ ở lại. Dù kinh nguyện khô khan, cứ trung thành. Dù chẳng hiểu Chúa đang làm gì, cứ phó thác. Dù không nhìn thấy đường, cứ bước từng bước. Đức tin không phải là có sẵn câu trả lời cho mọi vấn nạn. Đức tin là quyết định tín thác vào một Đấng trung tín hơn cảm giác của mình. Có những lúc người ta không thấy Chúa, nhưng chính lúc ấy Chúa lại đang đào sâu gốc rễ đức tin trong linh hồn. Nếu không bỏ cuộc, đêm tối ấy có thể trở thành bình minh của một tương quan trưởng thành hơn nhiều.
Người đang khủng hoảng đức tin cũng cần học nơi Đức Hồng y Văn Thuận một điều khác: giữ lòng khỏi cay đắng với Chúa. Đây là điều rất khó. Có những người không công khai bỏ đạo, nhưng trong lòng âm thầm trách Chúa. Tại sao Chúa để chuyện này xảy ra? Tại sao con cầu nguyện mà không được? Tại sao con sống tốt mà vẫn khổ? Tại sao người gian ác lại yên ổn? Tại sao con phải chịu điều này? Những câu hỏi ấy rất người. Chúa không sợ những câu hỏi ấy. Nhưng điều nguy hiểm là khi những câu hỏi ấy trở thành một thái độ đóng kín, không còn muốn mở lòng cho Chúa nữa. Đức Hồng y Văn Thuận đã không đi vào con đường đó. Ngài có thể không hiểu hết. Ngài có thể đau. Nhưng ngài không khép lại với Thiên Chúa. Ngài tiếp tục đối thoại. Tiếp tục ở lại. Tiếp tục tin. Và chính thái độ ấy là trường học lớn cho những ai đang sống trong một đêm dài thiêng liêng.
Có thể nói, đời sống nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận là một đời sống đã đi từ chỗ làm cho Chúa đến chỗ thuộc trọn về Chúa. Đây là một hành trình không hề đơn giản. Nhiều người dừng lại ở mức làm cho Chúa. Điều đó tốt, nhưng chưa đủ. Làm cho Chúa mà không thuộc về Chúa thì rất dễ mệt, rất dễ hư, rất dễ đổ vỡ khi bị thử thách. Thuộc về Chúa mới là nền tảng. Khi thuộc về Chúa, công việc trở thành hoa trái. Khi không thuộc về Chúa, công việc dễ trở thành nơi cái tôi đi tìm chính nó.
Thế nên, câu “chọn Chúa chứ không chỉ chọn công việc của Chúa” có một ý nghĩa vô cùng sâu xa. Nó có nghĩa là yêu chính Đấng mình phục vụ hơn là yêu cảm giác được phục vụ. Nó có nghĩa là tìm Chúa hơn là tìm hiệu quả. Nó có nghĩa là chấp nhận để Chúa cắt tỉa cả những điều ta nghĩ là thánh thiện nếu chúng đang trở thành chỗ bám cho cái tôi. Nó có nghĩa là dám để trống tay trước mặt Chúa. Dám để mình bị mất vai trò mà không mất bình an. Dám bị lấy đi những thành công mà không lấy đi được lòng tín thác. Dám ở yên với Chúa ngay cả khi bên ngoài không còn gì để chứng minh.
Đây cũng là bài học vô cùng lớn cho đời sống giáo dân hôm nay. Vì không chỉ linh mục hay tu sĩ mới bị cám dỗ yêu việc của Chúa hơn yêu Chúa. Một người cha có thể quá bận lo cho gia đình mà quên cầu nguyện. Một người mẹ có thể quá mải chăm con mà không còn ngồi với Chúa. Một người hoạt động tông đồ có thể rất bận nhà thờ mà lòng càng ngày càng xa Chúa. Một người thích việc đạo có thể yêu môi trường đạo, yêu hội đoàn, yêu các sinh hoạt, yêu việc được hiện diện, nhưng khi gặp một va chạm thì mất luôn cả niềm vui thiêng liêng. Vì sao? Vì trung tâm không thật sự là Chúa.
Chọn Chúa là trở về với điều cốt lõi nhất. Là thưa với Chúa rằng: lạy Chúa, nếu một ngày con không còn làm được gì, con vẫn muốn ở với Ngài. Nếu một ngày con không còn được dùng đến, con vẫn tin con thuộc về Ngài. Nếu một ngày mọi công trình của con sụp xuống, con vẫn muốn ôm lấy chân Ngài. Nếu một ngày người ta quên con, nếu những gì con xây dựng không còn, nếu khả năng của con suy giảm, nếu sức khỏe của con tàn đi, xin đừng để con mất Ngài. Vì mất mọi sự mà còn Ngài thì con vẫn còn. Còn mọi sự mà mất Ngài thì con vẫn mất.
Đức Hồng y Văn Thuận đã sống đến độ ấy. Chính vì thế mà đời ngài có sức lay động lâu bền. Người ta có thể cảm phục những hoạt động lớn của một người trong một thời gian. Nhưng chỉ đời sống nội tâm thật mới để lại một ảnh hưởng thiêng liêng dài lâu. Đức Hồng y Văn Thuận không chỉ để lại những trang viết hay những lời nói đẹp. Ngài để lại một mùi hương của một tâm hồn ở rất gần Chúa. Và khi một con người ở gần Chúa thật, họ trở thành trường học cho người khác, dù có khi không chủ ý dạy gì cả.
Linh mục trẻ nhìn vào ngài để học cách cắm rễ vào Chúa trước khi cắm rễ vào công việc. Người đau khổ nhìn vào ngài để học cách mang thập giá mà không đánh mất lòng tin. Người khủng hoảng đức tin nhìn vào ngài để học cách ở lại trong đêm tối. Gia đình nhìn vào ngài để học sống hy vọng giữa trăm ngổn ngang. Người trẻ nhìn vào ngài để học cách chọn điều sâu hơn hào nhoáng. Người lớn tuổi nhìn vào ngài để học cách dâng sự yếu đuối như của lễ. Và tất cả chúng ta nhìn vào ngài để học một điều giản dị mà rất khó: hãy chọn Chúa.
Chọn Chúa không phải là một quyết định chỉ làm một lần rồi thôi. Đó là quyết định phải lập lại hằng ngày. Mỗi sáng thức dậy là một lần chọn. Hôm nay con chọn Chúa hơn cái tôi của con. Hôm nay con chọn Chúa hơn cơn giận của con. Hôm nay con chọn Chúa hơn nhu cầu phải hơn thua. Hôm nay con chọn Chúa hơn nỗi sợ. Hôm nay con chọn Chúa hơn việc chứng minh giá trị của mình. Hôm nay con chọn Chúa hơn việc bám vào thành quả. Hôm nay con chọn Chúa hơn việc đòi đời phải đi theo ý con. Và chính những lựa chọn nhỏ lặp đi lặp lại ấy làm nên một đời sống nội tâm vững vàng.
Có thể chúng ta không bao giờ phải đi vào một nhà tù như Đức Hồng y Văn Thuận. Nhưng mỗi người đều sẽ có lúc bị đưa vào một hoàn cảnh mà ở đó Chúa hỏi mình câu ấy. Một biến cố làm ta mất kiểm soát. Một cơn bệnh buộc ta chậm lại. Một thất bại làm ta mất mặt. Một hiểu lầm làm ta bị tổn thương. Một giới hạn tuổi tác lấy đi sức lực. Một khủng hoảng đức tin làm lời cầu nguyện trở nên khô. Và khi đó, Chúa sẽ hỏi rất nhẹ mà rất sâu: con chọn Ta hay chỉ chọn những gì con làm cho Ta? Nếu ta trả lời được câu ấy bằng cả cuộc đời, thì dù có đi qua đêm tối nào, ta cũng sẽ không mất đường.
Ước gì phần suy niệm này không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về Đức Hồng y Văn Thuận, nhưng còn giúp ta nhìn lại lòng mình. Đời sống nội tâm của tôi đang ở đâu? Tôi có thật sự có một tương quan sống động với Chúa, hay tôi chỉ đang giữ đạo bằng thói quen? Tôi có đang bám vào Chúa, hay vào vai trò, hiệu quả, hình ảnh, thành công, sự công nhận? Tôi có dám để Chúa lấy đi điều gì đó mà tôi đang bấu víu không? Tôi có ở lại với Chúa khi cầu nguyện khô khan không? Tôi có để đau khổ làm mình sâu hơn không? Tôi có đang chọn Chúa mỗi ngày không?
Lm Anmai, CSsR
Tác giả: Lm Anmai, CSsR
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn