Chọn Chúa, không chọn việc của Chúa

Thứ sáu - 28/08/2026 08:31
Linh mục hôm nay cần học lại điều căn bản này: trước khi là người làm việc cho Chúa, con là người ở với Chúa. Trước khi là người phân phát bí tích, con phải là người sống nhờ bí tích. Trước khi là người giảng về hy vọng, con phải để đêm tối đào tạo hy vọng nơi chính mình.
hy thuan chon chua

Có những bài học người ta không học được khi mọi sự còn nguyên trong tay. Có những chân lý, nếu chỉ nghe khi lòng còn bình yên, khi công việc còn xuôi chảy, khi người ta còn được dùng, còn được cần, còn được hỏi tới, còn được tín nhiệm, còn có thể nhìn thấy kết quả cụ thể trước mắt, thì chân lý ấy dù đúng vẫn chỉ nằm ở tầng của ý niệm. Người ta có thể gật đầu, có thể nói “vâng, điều này rất đẹp”, có thể chép lại trong một cuốn sổ tay thiêng liêng, có thể nhắc lại trong một bài chia sẻ, nhưng tận đáy lòng, người ta chưa thật sự đi vào nó. Chỉ đến lúc đời mình bị cắt ngang, bị buộc phải buông, bị lấy khỏi tay một điều rất quý, rất đẹp, rất thánh, rất đáng yêu, lúc ấy người ta mới bắt đầu hiểu rằng có một khoảng cách rất lớn giữa việc nói về Chúa và việc thật sự thuộc trọn về Chúa; có một khoảng cách rất lớn giữa việc làm việc cho Chúa và việc để Chúa làm chủ toàn bộ đời mình; có một khoảng cách rất lớn giữa việc yêu việc của Chúa và việc yêu chính Chúa. Và chính trong khoảng cách ấy, nhiều linh hồn phải đi qua một cuộc thanh luyện vừa đau đớn vừa đẹp đẽ, vừa khắc nghiệt vừa giải thoát, vừa giống như một lưỡi dao chạm vào tim, vừa giống như một bàn tay dịu dàng của Chúa đang âm thầm gỡ từng lớp ràng buộc rất kín mà người ta mang trong lòng từ lâu mà không hay biết.

Con người rất dễ yêu việc của Chúa, mà điều ấy tự nó không có gì xấu. Trái lại, đó là điều rất đẹp. Một linh mục yêu giáo xứ mình đang phục vụ, một tu sĩ yêu cộng đoàn và sứ mạng được trao, một giáo dân yêu nhà thờ, yêu ca đoàn, yêu hội đoàn, yêu việc bác ái, yêu lớp giáo lý, yêu việc trang trí bàn thờ, yêu giờ kinh gia đình, yêu những sinh hoạt âm thầm phục vụ cho cộng đoàn, đó là những điều rất đáng quý. Giáo Hội sống được là nhờ những con người như thế. Một giáo xứ trở nên ấm là nhờ những con người như thế. Một cộng đoàn không tan là nhờ những đôi tay như thế, những trái tim như thế, những con người không đòi hỏi nhiều nhưng âm thầm bỏ thời giờ, sức lực, tài năng và cả nước mắt mình vào việc chung. Nếu không có những người yêu việc của Chúa, đời sống Hội Thánh sẽ khô lạnh và trống vắng biết bao. Nhưng cũng chính ở đây lại ẩn giấu một nguy cơ rất sâu, rất tinh vi, và vì quá tinh vi nên lại càng nguy hiểm: việc của Chúa đẹp quá, nên rất dễ chiếm lấy chỗ của chính Chúa; việc của Chúa thánh quá, nên cái tôi có thể núp ở đó rất kín; việc của Chúa cao quý quá, nên người ta dễ tưởng rằng bất cứ điều gì mình làm cho Chúa cũng hoàn toàn tinh tuyền, trong khi thực ra có thể đã lẫn vào trong ấy rất nhiều thứ thuộc về bản thân, về nhu cầu được nhìn nhận, được cần đến, được giữ chỗ, được khẳng định mình, được cảm thấy đời mình có giá trị nhờ một vai trò, một công việc, một ảnh hưởng nào đó trong cộng đoàn.

Có những người buồn không phải vì mất Chúa, nhưng vì mất công việc cho Chúa. Có những người đau không hẳn vì thấy mình sa sút trong đức tin, nhưng vì không còn được giao trách nhiệm như trước. Có những người hụt hẫng không phải vì không còn tình yêu với Hội Thánh, nhưng vì không còn cảm giác mình quan trọng trong Hội Thánh nữa. Có những người nói rằng họ đau vì giáo xứ thay đổi, nhưng sâu trong lòng, điều làm họ đau nhất lại là chỗ đứng của họ đã bị lung lay. Có những người tưởng rằng mình đang chiến đấu vì sự tốt đẹp của cộng đoàn, nhưng thật ra họ đang chiến đấu để giữ một phần bản ngã đã gắn chặt với một công việc đạo đức nào đó. Nói điều này không phải để kết án ai, nhưng để đi vào sự thật. Vì chỉ trong sự thật người ta mới bắt đầu tự do. Chúa không sợ sự yếu đuối của chúng ta. Ngài chỉ đau khi chúng ta không dám nhìn vào sự yếu đuối ấy, không dám nhận ra nơi nào trong lòng mình đang bấu víu, nơi nào trong lòng mình đang dùng việc đạo để che đi cái tôi, nơi nào trong lòng mình đang cần việc của Chúa hơn cần chính Chúa.

Nhiều khi người ta nghĩ rằng điều ngăn mình đến gần Chúa là tội lỗi trần tục, là những đam mê thấp hèn, là các cám dỗ quá rõ ràng của thế gian. Điều ấy đúng, nhưng chưa đủ. Có khi điều ngăn người ta đến gần Chúa hơn lại không mang khuôn mặt của sự dữ lộ liễu, mà mang khuôn mặt rất đẹp của nhiệt thành, của hy sinh, của tận tụy, của trách nhiệm, của lòng quảng đại. Một người có thể bận suốt ngày vì nhà Chúa, nhưng rất lâu rồi không thực sự ở với Chúa. Một người có thể lo rất chu toàn cho phụng vụ, cho tổ chức, cho sinh hoạt, cho tài chánh, cho cơ sở, cho các việc bác ái, nhưng trong lòng lại ngày càng căng hơn, nóng hơn, tự ái hơn, xét đoán hơn, dễ tổn thương hơn, ít cầu nguyện hơn, ít bình an hơn. Khi đó, vấn đề không còn nằm ở công việc. Vấn đề nằm ở chỗ công việc đã không còn là cây cầu dẫn đến Chúa nữa, mà dần dần trở thành nơi bản ngã tìm chỗ trú, nơi sự bấu víu tìm hình thức đạo đức để tồn tại. Đây là điều rất đau, nhưng là sự thật rất lớn của đời sống thiêng liêng. Người ta có thể làm việc cho Chúa mà lại ít thuộc về Chúa hơn mình tưởng. Người ta có thể nói rất nhiều về Chúa mà lại không còn quen ở yên trước mặt Ngài. Người ta có thể phục vụ Hội Thánh rất hăng say mà lại thiếu sự phó thác rất căn bản vào chính Chúa của Hội Thánh ấy.

Bởi vậy, Chúa đôi khi phải thanh luyện chúng ta không phải bằng cách lấy khỏi tay ta một điều xấu, nhưng bằng cách động tới một điều rất tốt. Nếu Chúa lấy khỏi tay ta tội lỗi, ta dễ hiểu. Nếu Chúa lấy khỏi tay ta một thú vui trần tục, ta dễ chấp nhận. Nhưng nếu Chúa lấy khỏi tay ta một sứ vụ, một công việc trong giáo xứ, một vai trò quen thuộc, một cánh đồng tông đồ mình yêu, một ảnh hưởng mình đã gắn bó, thì lúc đó cuộc thanh luyện mới thật sự chạm tới tận gốc. Người ta đau không chỉ vì mất một nhịp sống, mà vì thấy như mất một phần căn tính. Người ta đau không chỉ vì phải thay đổi kế hoạch, mà vì bị đụng tới nơi sâu nhất mình từng dựa vào để tự định nghĩa bản thân. Và chính ở đó, câu “chọn Chúa, không chọn việc của Chúa” không còn là một câu rất hay nữa, nhưng trở thành một lưỡi dao rất thật. Nó hỏi ta rằng: nếu hôm nay Chúa cất khỏi tay con điều con đang yêu nhất trong việc đạo, con còn ở lại với Chúa không? Nếu hôm nay Chúa để người khác làm điều con từng làm, con có còn bình an không? Nếu hôm nay Chúa không cho con kết quả, con có còn trung tín không? Nếu hôm nay Chúa bảo con ngồi yên, trong khi cả đời con quen chạy, con có còn tin rằng đời con vẫn có ý nghĩa trước mặt Ngài không? Nếu hôm nay Chúa để con đi vào một mùa trống, trống việc, trống ảnh hưởng, trống tiếng khen, trống cảm giác hữu ích, con có để cho chính Chúa đủ cho linh hồn con không?

Những câu hỏi ấy không dễ. Nhưng đời sống thiêng liêng lớn lên chính từ những câu hỏi không dễ ấy. Một linh hồn chỉ trưởng thành thật khi không còn sống dựa chủ yếu vào điều mình đang nắm, nhưng bắt đầu sống dựa vào Đấng mình đang thuộc về. Đây chính là bài học rất lớn nơi kinh nghiệm của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Khi đang ở tuổi sung mãn, khi đang có khả năng làm việc mạnh mẽ, khi đang mang trong mình nhiều thao thức cho Hội Thánh, cho giáo phận, cho các chương trình mục vụ, cho đời sống đào tạo và xây dựng, ngài bị tách khỏi gần như toàn bộ những điều người ta vẫn xem là “điều kiện để phục vụ”. Một người yêu việc Chúa như thế, nếu chỉ nhìn bằng con mắt trần gian, rất dễ rơi vào chua chát, vào hụt hẫng, vào cảm giác bị bỏ rơi. Khi một con người đang cháy lửa vì Chúa mà bị buộc ngồi trong bóng tối, không còn điều kiện để làm như trước, không còn giáo phận như trước, không còn phương tiện như trước, không còn lịch trình, không còn dự án, không còn những công việc cụ thể từng làm nên dung mạo mục vụ của mình, thì nỗi đau ấy đâu phải là nỗi đau nhỏ. Nó là một đêm dài. Một đêm rất dài. Nhưng chính trong đêm ấy, Chúa mở ra một cánh cửa mà ban ngày người ta thường không thấy: không phải việc của Chúa là cùng đích. Chính Chúa mới là cùng đích. Không phải những chương trình, những thành quả, những công trình, những ảnh hưởng, những vai trò mới là cứu cánh của đời linh mục hay đời tu hay đời Kitô hữu. Tất cả những thứ ấy đều quý, nhưng quý như phương tiện. Chỉ mình Chúa là cứu cánh. Chỉ mình Chúa là nền. Chỉ mình Chúa là điều còn lại khi mọi sự khác rơi khỏi tay.

Con người rất sợ bị trống. Người ta thích đầy. Đầy việc. Đầy người. Đầy tiếng động. Đầy mục tiêu. Đầy thành quả. Đầy lịch trình. Đầy những gì có thể nhìn thấy, chạm thấy, đo đếm được. Điều ấy tự nhiên thôi. Nhưng cũng chính vì thế, người ta rất sợ những mùa Chúa làm đời mình vơi bớt. Ít việc hơn. Ít được cần hơn. Ít được nhắc tới hơn. Ít khả năng hơn. Ít sức khỏe hơn. Ít kiểm soát hơn. Ít người tìm đến hơn. Ít cơ hội hơn. Những mùa “ít đi” ấy thường làm người ta hoảng. Vì khi bớt những cái ở bên ngoài, những khoảng trống ở bên trong bắt đầu lộ ra. Người ta mới thấy mình không bình an như mình tưởng. Người ta mới thấy nếu không còn việc để làm, mình không biết phải ở với chính mình thế nào. Người ta mới thấy mình từng sống nhiều bằng hoạt động hơn bằng hiện diện. Người ta mới thấy nếu không còn tiếng người khác, mình rất khó nghe tiếng Chúa. Người ta mới thấy mình đã âm thầm dùng việc Chúa như cách để khỏi phải đối diện với những khoảng sâu chưa được chữa lành trong lòng mình.

Nhưng nhiều khi Chúa chính là Đấng làm cho đời ta vơi bớt để linh hồn ta được đầy hơn. Lòng ta đầy việc quá, Chúa không chen vào được. Lòng ta đầy ý riêng quá, Chúa không có chỗ dẫn đi. Lòng ta đầy hình ảnh đẹp về chính mình quá, Chúa không có chỗ để mặc khải bộ mặt thật của ta. Lòng ta đầy tiếng khen chê của người khác quá, ta không còn nghe nổi tiếng gọi rất âm thầm của Ngài. Cho nên, khi Chúa để ta bước vào một mùa trống, có khi đó không phải là lúc Ngài bỏ ta, mà là lúc Ngài muốn nói những điều sâu hơn bất cứ công việc nào. Người ta vẫn nghĩ rằng Chúa sẽ làm cho mình lớn lên bằng cách giao thêm việc, mở thêm đường, cho thêm thành quả. Nhưng có khi Chúa làm cho một linh hồn lớn lên bằng cách đóng bớt cửa, lấy bớt vai trò, cắt bớt sự bám víu, buộc người ấy phải ngồi yên, phải chậm lại, phải ở một mình với Chúa lâu hơn, phải nhận ra rằng mình không là công việc của mình, không là vai trò của mình, không là thành quả của mình, không là ảnh hưởng của mình, nhưng là người thuộc về Chúa.

Đó là lý do vì sao sự thanh luyện thiêng liêng thường đau. Nó giống như một cuộc giải phẫu. Và giải phẫu thì không êm ái theo kiểu dễ chịu. Chúa chạm đúng vào chỗ ta đang bám. Chúa để lộ ra những động lực pha trộn. Chúa không phá bỏ sứ mạng, nhưng Ngài cắt bỏ sự chiếm hữu nơi sứ mạng ấy. Chúa không muốn ta thôi yêu việc của Ngài, nhưng Ngài không muốn việc của Ngài trở thành nơi cái tôi ta ngự trị. Chúa không muốn ta bớt nhiệt thành, nhưng Ngài muốn nhiệt thành ấy sạch hơn, nhẹ hơn, tự do hơn. Chúa không muốn ta thôi xây dựng cộng đoàn, nhưng Ngài không muốn ta xem cộng đoàn như công trình của riêng mình. Chúa không muốn ta lười biếng, thụ động, buông xuôi; Ngài chỉ muốn ta bớt sở hữu, bớt kiểm soát, bớt cần phải là trung tâm của mọi chuyện. Người ta rất hay lẫn lộn giữa trách nhiệm và chiếm hữu. Ta nói mình đang “có trách nhiệm”, nhưng nhiều khi lòng ta đã đi xa hơn trách nhiệm để bước sang vùng của sở hữu. Ta không chỉ lo cho việc chung, mà còn thấy mình không thể thiếu. Ta không chỉ muốn điều tốt cho cộng đoàn, mà còn muốn cộng đoàn phải cần mình, nghe mình, làm theo cách của mình. Ta không chỉ thương việc Chúa, mà còn đau quá mức khi việc ấy không còn đi theo đường mình đã quen. Lúc đó, ta cần thanh luyện.

Một bà mẹ trong giáo xứ nhiều năm lo hoa bàn thờ, từng cành hoa, từng bình nước, từng mùa phụng vụ, từng khăn phủ, từng góc nhỏ trong cung thánh, bà đã chăm chút như chăm chính ngôi nhà của mình. Một ngày tuổi già tới, mắt mờ, tay run, lưng yếu, nhóm trẻ được giao dần công việc ấy. Nếu bà thật sự chọn Chúa, bà sẽ đau nhưng rồi bình an, sẽ nâng đỡ lớp trẻ, sẽ chỉ bảo bằng tình thương, sẽ mừng vì bàn thờ Chúa vẫn đẹp, dù đôi tay không còn là tay mình. Nhưng nếu bà đã âm thầm buộc giá trị đời mình vào công việc ấy, bà sẽ rất khổ. Bà sẽ thấy như mình bị rút mất một phần linh hồn. Bà sẽ dễ so sánh, dễ trách, dễ khó chịu, dễ thấy mình bị gạt ra ngoài. Không phải vì bà xấu. Nhưng vì chỗ bà từng xem là phục vụ đã bị trộn lẫn quá nhiều với nhu cầu được giữ chỗ. Một ông trưởng hội đoàn nhiều năm hy sinh giờ giấc, đi họp, kết nối, tổ chức, xây dựng, một ngày có sự sắp xếp lại, có người trẻ hơn, có cách làm mới hơn, cha xứ mới giao trách nhiệm khác đi. Nếu ông chọn Chúa, ông vẫn buồn, vẫn tiếc, nhưng sau cùng ông sẽ cúi đầu và thưa: “Lạy Chúa, đây là việc của Chúa. Nếu Chúa muốn con lui, xin cho con lui trong bình an.” Còn nếu sâu trong lòng ông đã gắn sự hiện diện của mình với vai trò ấy, vết thương này có thể kéo dài thành cay đắng. Ông vẫn đi lễ, vẫn lần chuỗi, nhưng trong tim có một góc tối. Một linh mục yêu giáo xứ mình đang phục vụ, yêu đoàn chiên, yêu mọi dự định mục vụ, đang thấy nhiều điều nở hoa, rồi một ngày lệnh thuyên chuyển đến. Nỗi đau ấy rất thật. Không nên tô son nó như thể không đau. Nó đau. Nó cắt. Nó làm tim nhói. Nhưng chính ở đây, nếu người linh mục ấy đã thực sự chọn Chúa, nỗi đau sẽ trở thành của lễ. Ngài đi không phải vì bớt yêu, nhưng vì yêu hơn. Vì biết rằng giáo xứ ấy là của Chúa, đoàn chiên ấy là của Chúa, công trình ấy là của Chúa, còn mình chỉ là người được trao để chăm sóc trong một thời gian. Một nữ tu được gửi tới một cộng đoàn nhỏ, ít việc, âm thầm, không hợp sở trường, không có chỗ để thể hiện những khả năng mình vốn có. Nếu chị chỉ nhìn bằng hiệu quả, chị sẽ thấy đời mình bị phí. Nhưng nếu chị nhìn bằng đức tin, chị sẽ nhận ra không nơi nào là vô ích nếu đó là nơi Chúa muốn chị nên thánh. Một ngày sống âm thầm trong yêu thương, trong nhẫn nại, trong vâng phục, trong cầu nguyện, có khi trước mặt Chúa còn đẹp hơn nhiều công việc lớn mà cái tôi còn trộn vào.

Một trong những cám dỗ đau nhất nơi người làm việc Chúa là cám dỗ “không thể thiếu”. Ta không nói ra, nhưng lòng ta ngầm nghĩ: nếu không có mình, việc này chắc hỏng; nếu mình rời đi, chỗ này chắc rối; nếu không còn mình, mọi thứ sẽ xuống. Cám dỗ ấy có thể mặc áo của trách nhiệm, nhưng tận sâu nó vẫn là một hình thức bấu víu vào bản thân. Và Chúa, vì thương ta, nhiều khi phải cho ta thấy rằng Hội Thánh không quay quanh ta, giáo xứ không quay quanh ta, hội dòng không quay quanh ta, công trình không quay quanh ta. Ta là khí cụ quý, nhưng không phải là nguồn mạch. Ta được mời cộng tác, nhưng không phải là chủ. Nghe như thế, người kiêu ngạo thấy khó chịu. Nhưng người khiêm nhường lại thấy được giải thoát. Giải thoát khỏi gánh nặng phải làm “cứu chúa” cho việc của Chúa. Giải thoát khỏi nỗi sợ thường trực rằng nếu không có mình mọi sự sẽ sụp đổ. Giải thoát khỏi cơn nghiện được cần đến. Giải thoát khỏi cái mệt triền miên của người luôn phải giữ mọi thứ trong tay. Người ta mệt không chỉ vì việc nhiều. Người ta còn mệt vì đã ôm vào lòng những điều vốn thuộc quyền Thiên Chúa. Có những số phận lẽ ra phải trao cho Chúa, ta lại muốn điều khiển. Có những kế hoạch lẽ ra phải để Chúa định liệu, ta lại muốn mọi chuyện đi theo ý ta. Có những con người lẽ ra phải được yêu bằng kiên nhẫn, ta lại yêu bằng cách kiểm soát. Kết quả là linh hồn khô, môi dễ than, tim dễ nóng, mắt dễ xét đoán, hơi thở nặng, lời cầu nguyện ngắn lại, niềm vui phục vụ tan đi. Ta tưởng mình khổ vì việc nhiều, nhưng thật ra còn khổ vì cái tôi đang phải gồng giữa việc đạo.

Người thật sự chọn Chúa thì khác. Họ vẫn trách nhiệm, không buông xuôi. Họ vẫn chăm lo, không dửng dưng. Họ vẫn cố gắng làm thật tốt những gì được trao. Nhưng ở tận đáy lòng, họ có một khoảng bình an mà người khác không lấy được. Họ vui khi được dùng, nhưng không tuyệt vọng khi không còn được dùng theo cách cũ. Họ mừng khi có kết quả, nhưng không sụp đổ khi không thấy kết quả như ý. Họ yêu cộng đoàn, nhưng không biến cộng đoàn thành nơi để nuôi bản ngã. Họ gắn bó với công việc, nhưng không lấy công việc làm căn tính tối hậu. Họ biết rằng sau tất cả, điều Chúa tìm nơi họ không phải trước hết là hiệu suất, nhưng là tình yêu; không phải trước hết là thành công, nhưng là trung tín; không phải trước hết là công trình, nhưng là trái tim. Bởi vậy, khi Chúa bảo họ đứng trước, họ biết ơn. Khi Chúa bảo họ đứng sau, họ vẫn không tối lòng. Khi Chúa trao việc, họ làm hết mình. Khi Chúa cất việc, họ đau nhưng xin vâng. Đó là tự do. Mà chỉ có tự do như thế mới yêu thật. Vì khi không tự do, ta yêu theo kiểu chiếm hữu. Ta yêu giáo xứ như của mình, yêu nhóm phục vụ như của mình, yêu công trình như của mình, yêu ảnh hưởng như của mình. Rồi bất cứ ai đụng vào đó cũng làm ta đau như bị lấy mất chính bản thân mình. Nhưng khi đã chọn Chúa, tình yêu đối với việc của Chúa trở nên tinh tuyền hơn: vẫn yêu, nhưng không chiếm hữu; vẫn làm, nhưng không bấu víu; vẫn dấn thân, nhưng không cần phải là trung tâm; vẫn chăm sóc, nhưng không kiểm soát; vẫn hiến thân, nhưng không đồng hóa giá trị đời mình với vai trò đang có.

Điều này đặc biệt quan trọng cho những người đang bước vào tuổi già, cho những ai đi qua bệnh tật, cho những ai không còn làm được như xưa, cho những ai đã bị cắt khỏi những công việc mình yêu nhất. Thế gian thường đánh giá giá trị một con người qua năng suất, qua mức độ còn hữu ích, qua lượng việc còn làm được. Nhưng Tin Mừng nhìn khác. Chúa không hỏi trước hết: con còn làm được bao nhiêu? Chúa hỏi: con còn thuộc về Ta không? Một cụ già không còn đi lại được, không còn tham gia sinh hoạt như trước, nhưng ngày ngày lần chuỗi và dâng đau bệnh cho các linh hồn, trước mặt Chúa vẫn là một cột trụ vô hình của Hội Thánh. Một linh mục không còn giảng mạnh như xưa, nhưng mỗi thánh lễ dâng với tất cả lòng yêu mến, vẫn là một mục tử đẹp. Một nữ tu không còn nhanh nhẹn, nhưng âm thầm sống hiền lành, cầu nguyện, nhẫn nại với tuổi tác và giới hạn, vẫn là một của lễ đẹp. Một giáo lý viên không còn đứng lớp, nhưng còn nhớ từng em nhỏ trong lời kinh, vẫn là người tông đồ đẹp. Một người cha không còn kiếm được nhiều tiền, nhưng vẫn trung tín với Chúa nhật, vẫn giữ lòng ngay thẳng, vẫn là chứng nhân đẹp. Một người mẹ già không còn quán xuyến mọi sự như xưa, nhưng còn biết dâng nỗi đau, còn biết chúc lành cho con cháu, còn biết mỉm cười trong giới hạn của mình, vẫn là một dung mạo rất đẹp của Tin Mừng. Vẻ đẹp ấy chỉ ai đã bắt đầu chọn Chúa hơn những gì mình làm cho Chúa mới hiểu được. Còn thế gian thì không. Thế gian chỉ hiểu vẻ đẹp của hiệu quả, của vị trí, của ánh sáng sân khấu, của thành tựu có thể đo đếm. Còn Thiên Chúa nhìn vào độ trong của lòng hiến dâng.

Vì thế, nhiều người sau khổ đau lại sâu hơn. Không phải vì đau khổ tự nó là tốt. Nhưng vì đau khổ, nếu được sống với Chúa, sẽ bóc đi rất nhiều ảo tưởng. Người ta bớt nghĩ mình là trung tâm. Bớt nghĩ việc Chúa phụ thuộc vào mình. Bớt nghĩ thành công mục vụ là dấu chắc chắn của sự thánh thiện. Bớt nghĩ rằng mình chỉ có giá trị khi còn làm được nhiều. Bớt cần tiếng khen. Bớt dễ bị chao đảo bởi việc bị quên. Bớt lên mặt với người khác. Bớt cứng trong phán đoán. Bớt xem sự yếu đuối của người khác là điều khó hiểu. Vì họ đã nếm chính sự bất lực của mình. Họ biết cảm thông hơn. Họ biết phó thác hơn. Họ biết thế nào là không còn gì trong tay mà vẫn phải đứng trước mặt Chúa. Và vì thế, nếu họ không khép lòng lại, họ sẽ trở thành những con người rất sâu, rất hiền, rất nhẹ, rất tự do. Nhiều người hoạt động bề ngoài rất mạnh chưa chắc có sự sâu ấy.

Thưa cộng đoàn, có lẽ điều Chúa muốn trong một giờ tĩnh tâm không phải chỉ làm cho ta sốt sắng thêm một chút, nhưng là đụng tới nền của đời ta. Nền ấy đang đặt ở đâu? Trên công việc? Trên vai trò? Trên sự nhìn nhận? Trên khả năng? Trên việc được dùng? Trên thành công? Hay trên chính Chúa? Nếu nền là công việc, một ngày không còn việc, ta sẽ sụp. Nếu nền là vai trò, một ngày mất vai trò, ta sẽ hoảng. Nếu nền là lời khen, một ngày bị quên, ta sẽ tối lòng. Nếu nền là thành công, một ngày thất bại, ta sẽ nghi ngờ mọi sự. Chỉ khi nền là Chúa, ta mới không tan hẳn. Có thể đau, có thể khóc, có thể lao đao, có thể chao đảo, nhưng không tan. Vì nền vẫn còn đó. Bài học của Đức Hồng Y Thuận chính là bài học xây lại cái nền ấy. Không phải trong thư viện, nhưng giữa đêm tối. Không phải trong tiện nghi, nhưng trong bị tước bỏ. Từ một người say mê hoạt động, ngài được Chúa dẫn vào tự do nội tâm đến mức có thể nhìn khoang tàu như nhà thờ chính tòa, nhìn trại giam như cánh đồng truyền giáo, nhìn những người tù như đoàn chiên được trao phó. Điều ấy chỉ có thể xảy ra nơi một trái tim đã không còn đòi Chúa phải dùng mình theo cách mình muốn, nhưng chỉ còn xin được thuộc về Chúa ở bất cứ nơi nào Ngài đặt đến.

Đó cũng là bài học rất lớn cho linh mục trẻ, cho tu sĩ trẻ, cho giáo dân nhiệt thành hôm nay. Khi người ta còn nhiều sức, nhiều sáng kiến, nhiều khả năng, nhiều ước mơ, người ta rất dễ đồng hóa ơn gọi với hoạt động, đồng hóa lòng đạo với hiệu quả, đồng hóa sự phong phú thiêng liêng với số lượng việc mình đang làm. Điều ấy không hoàn toàn sai, nhưng rất nguy hiểm nếu không đi kèm chiều sâu. Vì sẽ đến ngày Chúa thử ta. Không phải nhất thiết bằng một biến cố quá lớn. Có khi chỉ là một lời góp ý làm ta chạm tự ái. Có khi chỉ là một sự thay đổi khiến ta thấy không còn là mình nữa. Có khi chỉ là người khác làm thay một việc mình quen. Có khi chỉ là một giai đoạn không ai cần tới tài năng mình. Có khi chỉ là bệnh. Có khi chỉ là sự chậm lại. Có khi chỉ là tuổi tác. Có khi chỉ là một mùa Chúa để cho lời cầu nguyện khô hơn, để ta thôi sống dựa vào cảm giác. Mỗi lần như thế, Chúa hỏi: con chọn ai? Con chọn Ta hay chọn hình ảnh đẹp về con trong nhà Ta? Con chọn thánh ý Ta hay chọn công việc con thích làm cho Ta? Con chọn sự hiện diện của Ta hay chọn cảm giác được dùng? Con chọn được ở với Ta hay chọn những gì tay con có thể nắm?

Người môn đệ trưởng thành là người theo Chúa không chỉ khi Chúa cho họ làm việc, cho họ kết quả, cho họ đứng trước, cho họ cảm thấy đầy hứng khởi, mà còn khi Chúa thinh lặng, khi Chúa cắt bớt, khi Chúa đổi đường, khi Chúa để họ đi qua một mùa bị lấy đi. Không phải vì họ không còn đau. Nhưng vì họ yêu Chúa hơn những gì thuộc về Chúa. Đây là điều rất khó, nhưng cũng là điều đẹp nhất. Yêu Chúa hơn những gì thuộc về Chúa. Nghĩa là nếu Chúa cho, con cảm tạ. Nếu Chúa lấy, con vẫn không bỏ Ngài. Nếu Chúa dùng con, con vui. Nếu Chúa để con sang bên, con vẫn không cay đắng. Nếu Chúa cho thấy hoa trái, con cúi đầu. Nếu Chúa để con gieo mà không thấy gặt, con vẫn trung tín. Nếu Chúa để con xuất hiện ở trung tâm, con đừng kiêu. Nếu Chúa để con vào bóng tối, con đừng tưởng mình vô ích. Đó là linh đạo của sự tự do, của người đã để cho Chúa thanh luyện tận gốc.

Giờ đây, ta hãy lắng lại thật chậm trước mặt Chúa. Có điều gì trong đời sống đạo mà nếu bị lấy đi, ta sẽ mất bình an quá mức? Có vai trò nào trong cộng đoàn mà nếu không còn, ta sẽ thấy như đời mình rơi vào khoảng trống? Có công việc nào mà ta nói là “vì Chúa”, nhưng thật ra sâu trong lòng ta đang cần nó để thấy mình có giá trị? Có vết thương nào ta mang suốt nhiều năm chỉ vì ai đó đụng vào điều ta từng xem là phần sở hữu tinh thần của mình? Có nỗi buồn nào không chịu tan vì thật ra ta chưa trao được việc ấy lại cho Chúa? Có sự mệt mỏi nào trong phục vụ không chỉ vì việc nặng, mà còn vì ta đã ôm vào lòng những gì lẽ ra thuộc quyền Thiên Chúa? Có tiếng than nào trong ta phát xuất từ việc ta yêu Chúa chưa đủ, nên mới buộc nhiều quá vào những điều của Ngài? Những câu hỏi ấy không để làm ta nản. Những câu hỏi ấy để mở cửa cho ơn chữa lành. Vì Chúa chỉ chữa nơi ta dám đem ra ánh sáng.

Và đây mới là điều rất dịu dàng nơi Thiên Chúa: Ngài thanh luyện không phải để làm ta nghèo đi, nhưng để làm ta giàu hơn. Ngài lấy bớt để cho ta nhiều hơn. Ngài cắt để cho ta sinh trái hơn. Ngài làm trống một phần đời ta để chính Ngài có thể lấp đầy. Ngài dạy ta buông không phải để ta mất tất cả, nhưng để ta nhận ra rằng chỉ mình Chúa là điều không ai lấy được. Nếu đời ta xây trên điều có thể lấy mất, rồi sẽ có ngày ta khổ lắm. Nếu đời ta xây trên Chúa, thì ngay cả lúc tay trống, đời vẫn đầy. Ngay cả khi bị quên trước mặt người đời, ta vẫn được nhớ trước mặt Chúa. Ngay cả khi không còn gì để chỉ vào và nói “đây là thành quả của con”, ta vẫn còn một kho tàng không ai cướp được: mình thuộc về Chúa. Sau cùng, đó mới là điều quyết định giá trị của đời người. Không phải mình đã nắm được bao nhiêu, nhưng là mình đã thuộc về ai. Không phải người ta đã nhắc tên mình bao lâu, nhưng là Chúa có nhận mình là của Ngài hay không. Không phải mình đã để lại công trình lớn đến đâu, nhưng là trái tim mình đã để cho Chúa chiếm đến đâu.

Từ chính bài học ấy, ta phải đi sâu hơn nữa vào một chiều kích còn kín hơn, đau hơn, nhưng cũng sáng hơn, đó là mầu nhiệm Thánh Thể trong đêm tối, là kinh nghiệm nhà tù trở thành chủng viện của hy vọng, là con đường tha thứ như đỉnh cao của tự do nội tâm, và từ đó mở ra một lời gọi rất lớn cho linh mục hôm nay. Bởi vì nếu “chọn Chúa, không chọn việc của Chúa” là nền, thì chính nơi Thánh Thể, nơi đêm tối, nơi tha thứ và nơi đời mục tử bị thanh luyện, nền ấy mới hiện ra trọn vẹn như một con đường sống, chứ không còn chỉ là một tư tưởng đẹp.

Người ta thường yêu Chúa nhiều khi Chúa hiện diện trong ánh sáng. Khi có người nghe mình, khi có cộng đoàn đón nhận mình, khi lời giảng có sức lay động, khi công việc mục vụ còn đang nở hoa, khi giáo dân còn quấn quýt, khi mình còn đủ sức để đi, để nói, để tổ chức, để dựng xây, thì việc nói rằng mình yêu Chúa không phải là điều quá khó. Nhưng đến lúc Chúa hiện diện trong bóng tối thì sao? Đến lúc Chúa không đến trong tiếng vỗ tay, nhưng trong sự thinh lặng của căn phòng hẹp, trong sự bất lực, trong nỗi nhục nhã, trong cảm giác bị cắt khỏi tất cả những gì từng làm nên nhịp sống của mình, thì sao? Chính lúc ấy, điều còn lại không phải là tài năng, không phải là hoạt động, không phải là uy tín, không phải là ảnh hưởng, mà là tương quan trần trụi giữa một linh hồn với Thiên Chúa. Và đó là nơi Thánh Thể trở thành một mầu nhiệm không thể hiểu nếu chưa đi qua đêm.

Người ta có thể nói rất hay về Thánh Thể khi bàn thờ sáng nến, khi ca đoàn hát hay, khi nhà thờ đông người, khi phụng vụ sốt sắng, khi mọi thứ đều đẹp. Tất cả những điều đó đều quý. Nhưng có một cách hiểu Thánh Thể sâu hơn rất nhiều, đó là hiểu Thánh Thể khi đời mình giống như đã bị nghiền nát. Bởi vì Thánh Thể chính là Chúa Giêsu chấp nhận để mình bị bẻ ra, bị trao nộp, bị đặt vào tay người khác, bị ở lại trong hình bánh nhỏ bé, không tiếng nói, không quyền lực, không tự vệ, không phô bày vinh quang, không giữ lại gì cho riêng mình. Thánh Thể là Đức Kitô không chọn biểu dương quyền năng, nhưng chọn tự hiến. Không chọn sự huy hoàng dễ thấy, nhưng chọn tình yêu bị bẻ ra. Không chọn cách hiện diện làm người ta choáng ngợp, nhưng chọn cách hiện diện khiêm hạ đến mức người ta có thể quên, có thể xúc phạm, có thể coi thường, có thể để mặc. Và chính vì thế, chỉ ai đi qua những mùa bị bẻ ra trong đời mới bắt đầu hiểu Thánh Thể không còn là một ý niệm đạo đức, nhưng là chính nhịp tim của ơn gọi Kitô hữu và cách riêng của đời linh mục.

Khi một con người đang quen sống giữa nhịp độ công việc bị đẩy vào sự trống vắng, Thánh Thể đổi nghĩa. Khi một vị mục tử không còn giáo đường, không còn cộng đoàn trước mặt, không còn những điều kiện bình thường để cử hành và sống sứ mạng như trước, mà vẫn mang trong mình cơn đói Thiên Chúa, cơn đói được hiệp thông, cơn đói được ở với Chúa Giêsu trong bí tích tình yêu, thì lúc ấy, Thánh Thể hiện ra không còn như một sinh hoạt phụng vụ quen thuộc, mà như mạch sống duy nhất giữ cho linh hồn không chết ngạt. Chính ở chỗ này, đêm tối không còn chỉ là sự thiếu vắng, nhưng trở thành nơi khải lộ. Nhà tù không còn chỉ là nơi giam cầm thân xác, nhưng paradox lạ lùng thay, lại trở thành nơi mầu nhiệm tự do được tỏ hiện rõ nhất. Bởi vì khi tất cả những thứ bên ngoài bị lấy đi, Thánh Thể xuất hiện như câu trả lời âm thầm mà tuyệt đối: Ta vẫn ở đây. Ta vẫn là của ăn cho con. Ta vẫn là sự sống của con. Ta vẫn không bỏ con trong đêm. Ta không cứu con khỏi đêm theo cách con muốn, nhưng Ta ở với con trong đêm để đêm không còn có tiếng nói cuối cùng.

Có những đêm người ta không chết vì thiếu hoạt động, nhưng vì thiếu ý nghĩa. Có những đêm người ta không tan vì mất công việc, nhưng vì không còn biết tại sao mình còn sống. Có những đêm điều làm người ta đau nhất không phải là bốn bức tường, mà là cảm giác mọi thứ mình từng dâng cho Chúa đều như bị cắt ngang vô nghĩa. Và chính trong những đêm ấy, nếu không có một sự hiện diện thật, linh hồn sẽ mục nát trong cay đắng. Nhưng Thánh Thể là lời Chúa trả lời cho vực thẳm ấy. Chúa không giải thích dài. Chúa không luôn cho biết tại sao. Chúa không luôn tháo xiềng ngay lập tức. Nhưng Chúa trao chính mình. Và khi một linh hồn còn có thể sống nhờ Chúa, còn có thể bám vào Chúa Giêsu Thánh Thể, thì dù bên ngoài có bị khóa kín, bên trong vẫn còn một bầu trời.

Đó là điều rất sâu nơi kinh nghiệm của những con người đã đi qua ngục tối mà không mất đức tin. Họ không thoát khỏi đau khổ bằng lý thuyết. Họ không sống sót nhờ những khẩu hiệu. Họ sống sót nhờ một tương quan. Nhờ Chúa thật. Nhờ Chúa hiện diện. Nhờ Chúa Giêsu không bỏ họ một mình trong đêm dài. Và chính vì vậy, Thánh Thể nơi đêm tối trở thành ánh sáng mà người chưa đi qua đau khổ rất khó hiểu. Trong hoàn cảnh bình thường, người ta có thể đến nhà thờ, dự lễ, rước lễ, chầu Thánh Thể, nhưng tất cả vẫn còn nằm trong một nhịp sống quen thuộc. Còn trong đêm tối, chỉ một chút hiện diện của Chúa thôi cũng đủ thành cả một bầu trời. Chỉ một dấu chỉ nhỏ thôi cũng đủ trở thành đại dương hy vọng. Chỉ một lần được kết hiệp với Chúa thôi cũng đủ làm cho tù ngục không thắng nổi linh hồn. Và từ đó, người ta hiểu rằng Chúa không chỉ là Đấng mình phục vụ, nhưng là Đấng mình sống nhờ. Không chỉ là đối tượng của một sứ mạng, nhưng là lương thực của chính bản thân. Không chỉ là nội dung của bài giảng, nhưng là sự sống giữ cho tim còn đập giữa nơi tưởng chừng sự chết đã lên ngôi.

Chính ở đây, nhà tù bắt đầu đổi nghĩa. Xét theo lý trí tự nhiên, nhà tù là nơi tước bỏ, là nơi hạ nhục, là nơi làm con người co rút lại, là nơi bẻ gãy tương lai, là nơi chôn vùi ước mơ. Nhưng trong chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, cùng một nơi ấy lại có thể trở thành chủng viện của hy vọng. Câu này không phải là một câu văn đẹp để gây xúc động. Nó là một chân lý được chưng cất từ đau khổ. Chủng viện là nơi đào tạo. Chủng viện là nơi Chúa uốn, Chúa dạy, Chúa rút bỏ, Chúa rèn, Chúa chuẩn bị, Chúa làm cho con người từ từ chết đi cho cái cũ để nên người của Ngài hơn. Nếu thế, thì trong một nghĩa rất sâu, đêm tối, ngục tù, giới hạn, bị cắt ngang, bị dừng lại, bị đặt vào nơi không còn chỗ cho mình tự xoay xở, tất cả có thể trở thành một chủng viện khốc liệt nhưng rất thật, nơi Chúa đào tạo linh hồn theo cách mà sự thuận lợi không bao giờ làm được.

Trong sự thuận lợi, người ta dễ tưởng mình mạnh. Trong sự thành công, người ta dễ tưởng mình thánh. Trong hoạt động không ngơi nghỉ, người ta dễ lẫn lộn giữa hiệu quả và chiều sâu. Nhưng trong đêm tối, những ảo tưởng ấy lần lượt rơi xuống. Khi không còn ai nhìn, khi không còn gì để chứng minh, khi không còn công trình nào để chỉ vào, khi không còn lịch dày đặc để tự trấn an mình rằng đời mình đang có ích, con người buộc phải đối diện với chính mình. Và đó là giờ rất đau. Nhưng cũng rất thật. Bao lâu còn chạy, người ta chưa chắc biết lòng mình đang có gì. Bao lâu còn bận, người ta chưa chắc biết đức tin mình đang đứng trên đâu. Bao lâu còn được dùng, người ta chưa chắc biết mình yêu Chúa hay yêu cảm giác mình hữu ích cho Chúa. Chỉ khi bị lấy đi, sự thật mới ló mặt. Và nếu người ta không bỏ chạy khỏi sự thật ấy, nhà tù bắt đầu biến thành chủng viện. Không phải chủng viện của lý thuyết, nhưng của bản thể. Không phải chủng viện dạy làm sao nói hay hơn, nhưng dạy làm sao ở với Chúa trần trụi hơn. Không phải chủng viện cho trí óc, nhưng cho tim. Không phải chủng viện của vở ghi, nhưng của nước mắt.

Hy vọng được đào tạo chính trong môi trường ấy. Không phải thứ hy vọng dễ dãi, thứ hy vọng được nuôi bằng thuận lợi, nhưng hy vọng tinh tuyền, hy vọng đã đi qua thử lửa. Người chưa từng bị tước mất nhiều có thể nói rất nhiều về hy vọng. Nhưng người đã bị lấy đi, đã bị bỏ vào bóng tối, đã thấy mọi dự định lớn của mình tan khỏi tầm tay, mà vẫn không để lòng mình rơi vào hận thù hay tuyệt vọng, người đó mới thật sự mang trong mình hy vọng Kitô giáo. Bởi vì hy vọng Kitô giáo không phải là lạc quan tự nhiên. Nó không dựa trên xác suất thuận lợi. Nó không dựa trên việc mọi chuyện sớm muộn sẽ ổn. Nó cũng không phải là thói quen tự nhủ “rồi sẽ qua thôi”. Hy vọng Kitô giáo là bám vào Thiên Chúa ngay cả khi chưa thấy đường ra. Là tin vào tình yêu của Chúa ngay cả khi biến cố trước mắt không giải thích nổi. Là biết rằng Chúa vẫn đang hành động ngay cả khi tay mình hoàn toàn bất lực. Là biết rằng đêm không phải lời cuối, vì Chúa đã bước vào đêm và mang trong mình bình minh phục sinh.

Nhà tù trở thành chủng viện của hy vọng chính ở đây: nó đào tạo một con người không còn sống nhờ điều kiện thuận lợi nữa, nhưng sống nhờ Thiên Chúa. Nó làm cho con người thôi dựa vào tiếng động để cảm thấy mình còn hiện hữu. Nó buộc con người tìm lại nguồn sống ở nơi sâu nhất. Nó dạy người ta phân biệt giữa những gì phụ thuộc và điều tuyệt đối. Nó làm cho một vị mục tử hiểu rằng ngay cả khi không còn giáo phận theo nghĩa hữu hình, mình vẫn còn một giáo phận vô hình trong chính những người đau khổ bên cạnh. Ngay cả khi không còn tòa giảng, mình vẫn còn bài giảng bằng chính cách mình sống. Ngay cả khi không còn tự do đi lại, lòng mình vẫn có thể mở ra như cánh đồng. Ngay cả khi mọi cánh cửa bên ngoài đóng kín, Chúa vẫn có thể mở những cánh cửa bên trong mà trước kia mình chưa từng đi qua. Và như thế, ngục tù không giết được sứ mạng; nó chỉ giết dần một kiểu hiểu rất bề mặt về sứ mạng, để trả lại cho người mục tử cốt lõi của đời mình: thuộc về Chúa và để Chúa dùng theo bất cứ cách nào Ngài muốn.

Nhưng một chủng viện thật không chỉ đào tạo hy vọng. Nó còn đào tạo trái tim. Và một trong những bài học đau nhất của trái tim trong đêm tối là tha thứ. Tha thứ là đỉnh cao của tự do nội tâm, vì bao lâu lòng còn bị xiềng bởi hận thù, bao lâu ký ức còn bị nuốt chửng bởi oán giận, bao lâu người ta còn sống bằng câu hỏi “tại sao họ lại làm vậy với tôi?”, thì bấy lâu người ta vẫn còn bị giam cầm, dù cửa ngục có mở. Người ta thường nghĩ tự do là được đi, được nói, được quyết định, được sống theo ý mình. Nhưng ở bình diện sâu nhất, tự do không phải chỉ là không có xiềng bên ngoài. Tự do là không để sự dữ chiếm trái tim mình. Tự do là không để người đã xúc phạm mình tiếp tục cai trị mình bằng vết thương. Tự do là khi người ta có thể đau, nhớ, mang thương tích, nhưng không để thương tích biến thành độc tố. Tự do là khi mình không trả lời cái ác bằng một thứ bóng tối khác. Tự do là khi trái tim vẫn thuộc về Chúa hơn thuộc về biến cố đã làm mình tổn thương.

Tha thứ vì thế không phải là lãng quên. Cũng không phải là phủ nhận sự dữ. Càng không phải là làm như không có chuyện gì xảy ra. Tha thứ là một cuộc chiến sâu nhất của linh hồn để không cho hận thù trở thành ông chủ mới của mình. Có những người thoát khỏi nơi giam cầm thân xác nhưng mang theo một nhà tù bên trong suốt phần đời còn lại. Nhà tù ấy mang tên cay đắng. Mỗi lần nhớ lại là lòng co rúm. Mỗi lần nhắc tới là ánh mắt tối đi. Mỗi lần nghĩ đến những người đã gây đau khổ cho mình là tim lại cứng lại. Và như thế, người ta tưởng mình đã tự do, nhưng thật ra mình vẫn đang bị giữ lại bởi quá khứ. Tha thứ là con đường đưa ra khỏi nhà tù ấy. Nó không dễ. Nó không thể làm bằng một quyết định cảm tính nhất thời. Nó đòi người ta phải đi rất sâu vào Chúa. Vì chỉ khi trái tim được neo trong một tình yêu lớn hơn đau khổ, người ta mới có thể thả tay ra khỏi hận thù.

Ở đây, Thánh Thể lại trở nên chìa khóa. Bởi vì Thánh Thể là Chúa Giêsu trao chính mình cho những kẻ rồi sẽ phản bội, chối từ, chạy trốn, đóng đinh và xúc phạm Ngài. Thánh Thể không chỉ là bí tích của tình yêu, mà còn là bí tích của sự tha thứ đi trước. Chúa trao Mình và Máu trước cả khi người ta xứng đáng. Ngài yêu trước cả khi các môn đệ trung thành. Ngài hiến thân trong chính đêm bị nộp. Chữ “trong đêm bị nộp” là một mầu nhiệm lớn. Không phải sau khi mọi hiểu lầm tan đi. Không phải khi đám đông đã đổi lòng. Không phải khi Giuđa đã ăn năn. Không phải khi Phêrô đã thôi yếu đuối. Nhưng chính trong đêm phản bội, Chúa lại lập Thánh Thể. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là tình yêu của Chúa không chờ đợi con người hết tệ bạc mới ban mình. Tình yêu của Chúa bước vào chính chỗ tối nhất của lòng người để bẻ gãy logic của hận thù. Và đó là khuôn mẫu của tha thứ Kitô giáo. Không phải tha thứ vì người kia đã xứng đáng. Không phải tha thứ vì mọi chuyện đã được bồi thường. Không phải tha thứ vì công lý nhân loại đã làm đủ. Nhưng tha thứ vì mình không muốn mất Chúa, không muốn đánh mất tự do, không muốn để bóng tối lan thêm.

Người mục tử đi qua đêm tối mà vẫn tha thứ được là người đạt tới một mức độ tự do rất sâu. Bởi vì lúc đó, ngài không còn bị điều khiển bởi người đã gây đau khổ cho mình nữa. Ngài để cho Chúa định nghĩa trái tim mình, chứ không để cho biến cố. Ngài để cho Thánh Thể tạo nhịp đập của linh hồn mình, chứ không để cho vết thương điều khiển. Và kỳ lạ thay, chính lúc ấy ngài trở nên giống Chúa Giêsu hơn bao giờ hết. Người ta có thể bị tước tất cả, nhưng nếu còn tha thứ được, người ta chưa thua. Trái lại, ở mức nào đó, chính lúc ấy người ta thắng lớn nhất. Không phải thắng ai, nhưng thắng bóng tối đang muốn xâm chiếm mình. Thắng cơn cám dỗ biến đau khổ thành độc tố. Thắng cơn quyến rũ của cay đắng vốn luôn có vẻ rất chính đáng. Có những thứ nhìn rất chính đáng mà lại rất nguy hiểm, và cay đắng là một trong những thứ ấy. Nó cho người ta cảm giác mình có quyền. Có quyền hờn, có quyền khép, có quyền kết án, có quyền giữ mãi vết thương như một bản cáo trạng. Nhưng giữ như thế lâu ngày, linh hồn mất tự do. Và một linh mục mà mất tự do nội tâm thì sớm muộn gì cũng mất sự dịu dàng, mất sự rộng, mất khả năng ôm lấy những con người yếu đuối, mất khả năng trở thành dấu chỉ của lòng thương xót.

Bởi vậy, tha thứ không chỉ là một nhân đức đẹp. Đối với người mục tử, đó là điều kiện để trái tim còn ở lại trong trường của Chúa Giêsu. Một linh mục không biết tha thứ sẽ dần dần trở nên cứng, dù bên ngoài vẫn làm việc tốt. Một tu sĩ không biết tha thứ sẽ dần dần biến cộng đoàn thành nơi phòng thủ, chứ không còn là nơi hiến thân. Một giáo dân không biết tha thứ sẽ có thể vẫn đọc kinh và đi lễ, nhưng trong lòng không còn chỗ rộng cho ân sủng. Tha thứ không làm đau khổ chưa từng xảy ra. Nhưng tha thứ đặt đau khổ vào tay Chúa để nó không tiếp tục đầu độc linh hồn. Tha thứ không thay thế công lý. Nhưng tha thứ cứu trái tim mình khỏi bị nghiền nát bởi chính biến cố đã làm mình đau. Tha thứ là nói với Chúa: “Con không phủ nhận nỗi đau. Nhưng con cũng không muốn để nỗi đau trở thành căn tính của con. Con muốn căn tính của con vẫn là người thuộc về Chúa.”

Và đây là bài học rất lớn cho linh mục hôm nay. Vì nếu có một nguy cơ lớn trong đời linh mục thời nay, thì đó là đời sống rất đầy việc nhưng ít được đào tạo chiều sâu nội tâm. Một linh mục có thể rất bận. Rất hữu ích. Rất năng động. Rất thành công trong mắt người ta. Nhưng vẫn có thể nghèo ở nơi sâu nhất, nếu ngài chưa đi vào tương quan thật với Chúa, nếu ngài chưa để cho Thánh Thể trở thành lương thực thật chứ không chỉ là cử hành quen thuộc, nếu ngài chưa học hy vọng trong những mùa không thấy kết quả, nếu ngài chưa học tha thứ đến mức không để vết thương mục vụ biến thành chua chát, nếu ngài chưa học ở lại với Chúa trong trần trụi, khi không còn những thứ giúp đỡ mình về mặt tâm lý. Đời linh mục hôm nay có thể bị cuốn vào rất nhiều điều: quản trị, xây dựng, đối ngoại, tài chánh, sự kiện, mạng xã hội, áp lực giáo dân, kỳ vọng cộng đoàn, sự so sánh, thành công mục vụ được đo bằng số lượng, và cả sự mệt nhoài tinh thần đến từ việc phải luôn xuất hiện. Tất cả những điều ấy đều có phần thực tế. Nhưng nếu linh mục không có một “chủng viện bên trong”, một nơi Chúa tiếp tục đào tạo tim mình mỗi ngày, thì người mục tử rất dễ trở thành một người quản lý tôn giáo hơn là một người thuộc về Chúa.

Linh mục hôm nay cần học lại điều căn bản này: trước khi là người làm việc cho Chúa, con là người ở với Chúa. Trước khi là người phân phát bí tích, con phải là người sống nhờ bí tích. Trước khi là người giảng về hy vọng, con phải để đêm tối đào tạo hy vọng nơi chính mình. Trước khi là người mời gọi giáo dân tha thứ, con phải bước vào cuộc chiến tha thứ trong chính trái tim mình. Trước khi là người tổ chức nhà xứ, con phải để cho Nhà Tạm tổ chức lại nội tâm con. Nếu không, linh mục rất dễ bị chia cắt bên trong: bên ngoài thì nhiều việc Chúa, bên trong thì ngày càng xa Chúa; bên ngoài thì nói về hiến dâng, bên trong thì đầy nhu cầu được công nhận; bên ngoài thì rao giảng lòng thương xót, bên trong thì mang nhiều cay đắng chưa được chữa lành; bên ngoài thì cử hành Thánh Thể, bên trong thì ít sống theo logic bị bẻ ra và trao đi của Thánh Thể.

Chính vì vậy, bài học từ đêm tối không phải chỉ dành cho những giai đoạn đặc biệt. Nó là kim chỉ nam cho đời linh mục mọi thời. Linh mục phải biết giữ lấy những khoảng thinh lặng nơi Chúa còn có thể nói. Phải biết để mình bị Thánh Thể bẻ ra, nghĩa là chấp nhận được dùng mà không sở hữu, được trao đi mà không giữ lại, được hiện diện mà không chiếm chỗ của Chúa, được yêu mến mà không lấy đó làm lương thực cho bản ngã. Linh mục phải học ở trong nhà tù của những giới hạn nhỏ hằng ngày với cùng một đức tin của những người đã đi qua ngục tù lớn: nhà tù của hiểu lầm, nhà tù của mệt mỏi, nhà tù của cảm giác cô đơn giữa rất nhiều người, nhà tù của những kỳ vọng không thể làm vừa lòng hết, nhà tù của những vết thương đến từ người mình từng yêu thương hết lòng. Nếu linh mục không biến những “nhà tù nhỏ” ấy thành chủng viện của hy vọng, chúng sẽ sớm trở thành nơi sản xuất cay đắng. Nhưng nếu linh mục biết đem những điều ấy tới Nhà Tạm, biết để Thánh Thể nuôi mình, biết nhìn chúng như nơi Chúa đang đào tạo mình sâu hơn, thì chính những điều đau sẽ làm cho đời linh mục chín, hiền, thật, và có khả năng chạm tới vết thương của người khác.

Linh mục hôm nay cũng cần học lại sự dịu dàng của tha thứ. Có những mục tử sau một số biến cố trở nên phòng thủ. Họ ít tin hơn, ít mở hơn, ít mềm hơn. Họ vẫn làm việc tốt, nhưng tim không còn rộng như trước. Họ giữ khoảng cách không chỉ vì khôn ngoan, mà vì sợ bị đau nữa. Đây là một cơn cám dỗ âm thầm mà rất thực. Nhưng một linh mục không còn để tim mình bị thương nữa thì cũng khó để tim mình yêu nữa. Chúa không gọi linh mục thành những người thép. Chúa gọi thành những người có trái tim bằng thịt, biết đau, biết khóc, biết bị phản bội, biết hiểu lầm, biết thất vọng, nhưng không khép lại trong cay đắng. Và muốn như thế, không có con đường nào khác ngoài việc sống rất gần với Chúa Giêsu Thánh Thể. Chính ở đó, linh mục học cách yêu mà không chiếm hữu, cho mà không đòi đáp, tha mà không cần người kia xứng đáng, hiến mà không cần được nhìn nhận, ở lại mà không cần ánh sáng dễ chịu. Chính ở đó, linh mục học ngôn ngữ sâu nhất của ơn gọi mình.

Nhà tù như chủng viện của hy vọng, Thánh Thể trong đêm tối, tha thứ như đỉnh cao của tự do nội tâm, tất cả những điều ấy gặp nhau nơi một điểm: người mục tử phải thuộc trọn về Chúa hơn bất cứ công việc nào của Chúa. Vì nếu không thuộc trọn về Chúa, khi đêm tới, người mục tử sẽ dễ rơi vào trống rỗng. Nếu không thuộc trọn về Chúa, khi bị tổn thương, người mục tử sẽ dễ biến thương tích thành bản sắc. Nếu không thuộc trọn về Chúa, khi kết quả không như ý, người mục tử sẽ rất dễ nghi ngờ tất cả. Nếu không thuộc trọn về Chúa, việc Chúa rất dễ trở thành nơi mặc sức cho bản ngã. Nhưng nếu thuộc trọn về Chúa, thì ngay cả đêm tối cũng có thể trở thành ánh sáng, ngục tù cũng có thể thành chủng viện, đau khổ cũng có thể thành hy lễ, và tha thứ cũng có thể nở hoa ngay ở nơi con người tưởng như chỉ còn hận thù là hợp lý.

Sau cùng, đời linh mục không được cứu bởi sự bận rộn. Đời linh mục cũng không được cứu bởi thành công mục vụ. Đời linh mục không được cứu bởi số công trình đã xây, số bài giảng đã nói, số chương trình đã thực hiện. Đời linh mục được cứu bởi Chúa. Bởi một tương quan sống còn với Chúa. Bởi khả năng ở lại với Chúa khi ánh sáng biến mất. Bởi việc biết quỳ xuống trước Thánh Thể không chỉ như nghi thức nhưng như người đói tìm lương thực. Bởi việc biết để Chúa đào tạo tim mình qua những giới hạn không tránh được của kiếp người và sứ vụ. Bởi việc biết tha thứ để không ai, không biến cố nào, không tổn thương nào có thể cướp mất trái tim mình khỏi tay Chúa. Và khi đó, linh mục mới thật sự trở thành của lễ, trở thành tấm bánh được bẻ ra, trở thành dấu chỉ hy vọng, trở thành người mang trong mình tự do của Tin Mừng.

Ta phải đi tiếp vào một mạch còn đau hơn nữa, gần hơn nữa, thật hơn nữa, vì nó chạm vào một thực tại rất âm thầm nhưng rất lớn trong đời linh mục hôm nay, đó là cơn cám dỗ hoạt động, là đời nội tâm bị bỏ quên, là nguy cơ biến sứ vụ thành bản ngã, và từ tất cả những điều ấy, mở ra con đường trở về với Nhà Tạm như trở về lại trung tâm của chính đời mình. Nói tới điều này, người ta không nói tới một số linh mục nào đó ở đâu đó xa xôi. Người ta đang nói tới một cám dỗ rất gần, rất đời, rất dễ xảy ra với bất cứ ai đã bước vào đời mục tử mà còn mang trong mình nhiều lửa, nhiều ước mơ, nhiều khả năng, nhiều thao thức, nhiều lòng quảng đại, và cũng đồng thời mang trong mình trái tim rất người, rất dễ bị lôi kéo bởi nhu cầu thành công, bởi cảm giác được cần đến, bởi niềm vui khi thấy mình có ảnh hưởng, bởi sự thỏa mãn rất âm thầm khi nhìn thấy công việc của mình sinh hoa trái trước mắt.

Linh mục trẻ thường bắt đầu với những điều rất đẹp. Một trái tim muốn dâng. Một thao thức muốn phục vụ. Một nhiệt tình muốn xây dựng. Một khát vọng muốn làm điều gì đó cho Chúa, cho Hội Thánh, cho các linh hồn. Đó là những điều đáng quý và cần phải được gìn giữ. Hội Thánh không thể sống nếu không có lửa ấy. Một linh mục không có nhiệt tình thì khó mà đi xa. Một mục tử không có thao thức thì rất dễ trở nên nguội. Nhưng chính ở nơi đẹp nhất ấy, cám dỗ cũng bắt đầu đi vào. Bởi vì ma quỷ không phải lúc nào cũng xúi người ta bỏ Chúa cách thô thiển. Nhiều khi nó chỉ cần đẩy người ta đi chệch rất nhẹ. Không phải bỏ sứ vụ, nhưng đồng hóa mình với sứ vụ. Không phải thôi làm việc cho Chúa, nhưng làm việc cho Chúa đến mức không còn ở với Chúa. Không phải phản bội ơn gọi cách công khai, nhưng để ơn gọi từ từ bị hút vào vòng xoáy của hiệu quả, của hình ảnh, của thành tích, của sự bận rộn, của nhu cầu phải chứng tỏ mình đang có ích.

Đây là cơn cám dỗ rất đặc biệt của linh mục trẻ: tưởng rằng mình càng bận thì càng thánh, càng làm nhiều thì càng gần Chúa, càng được người ta nhắc đến thì càng hữu ích cho Hội Thánh, càng có nhiều việc thành công thì càng đang sống đúng ơn gọi. Thực ra, không có công thức đơn giản như vậy. Có thể một linh mục rất bận mà rất nông. Có thể một linh mục làm rất nhiều mà lòng lại rất xa Chúa. Có thể một linh mục tổ chức rất giỏi, xây dựng rất mạnh, nói năng rất thuyết phục, quy tụ rất đông người, nhưng đời nội tâm lại đang hao mòn từng ngày. Người ngoài không thấy. Giáo dân không thấy. Cộng đoàn không thấy. Có khi chính linh mục ấy cũng chưa kịp thấy. Vì công việc nhiều quá. Tiếng động nhiều quá. Những phản hồi tích cực nhiều quá. Thành quả bên ngoài đủ đẹp để ru ngủ linh hồn. Và thế là người ta bắt đầu sống bằng cái nhìn của người khác hơn bằng ánh mắt của Chúa. Bắt đầu sống bằng sự thúc đẩy của công việc hơn bằng nhịp cầu nguyện. Bắt đầu sống bằng nhu cầu phải có mặt ở nhiều nơi hơn bằng sự ở lại trước Nhà Tạm. Bắt đầu đánh giá một ngày hiệu quả hay không không phải bằng việc mình đã ở với Chúa tới đâu, nhưng bằng việc mình đã giải quyết được bao nhiêu chuyện, gặp được bao nhiêu người, làm xong bao nhiêu việc, được khen bao nhiêu lần, được nhắc tới bao nhiêu nơi.

Và từ đó, đời nội tâm bắt đầu bị bỏ quên, không phải bằng một quyết định công khai, nhưng bằng vô số nhượng bộ rất nhỏ. Giờ cầu nguyện bị rút ngắn một chút vì bận. Chầu Thánh Thể bị dời lại vì còn cuộc hẹn. Kinh nguyện được đọc nhanh hơn vì ngày quá nhiều việc. Suy niệm Lời Chúa trở thành chất liệu để giảng cho người khác hơn là lương thực cho chính mình. Thinh lặng trở nên khó chịu vì người ta đã quen sống trong tiếng động. Một buổi ngồi yên trước Chúa bắt đầu làm mình bồn chồn vì đầu óc cứ nghĩ đến hàng chục điều phải giải quyết. Và dần dần, linh mục không còn sợ thiếu cầu nguyện bằng sợ thiếu hoạt động. Không còn sợ trái tim mình nguội bằng sợ mình bị xem là kém năng động. Không còn sợ mất Chúa bằng sợ mất nhịp điều hành, mất ảnh hưởng, mất sự hiện diện trong mắt người khác. Đây là điểm rất nguy hiểm, vì khi ấy, một dịch chuyển đã xảy ra mà không ai nhận ra rõ ràng: trung tâm đời linh mục không còn là Chúa, nhưng là sứ vụ; rồi sau đó, thậm chí không còn là sứ vụ theo nghĩa tinh tuyền, mà là bản ngã đang sống nhờ sứ vụ.

Người ta cần dừng lại thật lâu ở chữ “bản ngã” này, vì đó là một trong những chỗ tinh vi nhất và khó nhận ra nhất trong đời mục tử. Bản ngã của linh mục không phải lúc nào cũng hiện ra bằng kiêu ngạo lộ liễu. Nó có thể hiện ra bằng sự nhiệt thành không ngơi nghỉ. Bằng nỗi lo thường trực rằng mọi thứ phải chạy tốt. Bằng tâm trạng bực bội khi người khác không làm được như mình. Bằng nỗi buồn quá mức khi không được ai ghi nhận. Bằng sự tổn thương kéo dài khi bị hiểu lầm hay bị góp ý. Bằng sự khó chịu âm thầm khi một linh mục khác được yêu mến hơn, được nhắc đến nhiều hơn, có ảnh hưởng hơn, được xem là thành công hơn. Bằng nỗi sợ rất kín rằng nếu mình ngừng lại, người ta sẽ quên mình. Bằng cảm giác trống trải khi không còn bận. Bằng nỗi bất an khi phải ngồi yên với Chúa mà không có gì để làm. Tất cả những điều ấy không phải lúc nào cũng mang bộ mặt xấu. Chúng có thể được che phủ bằng ngôn ngữ trách nhiệm, bằng lòng thao thức, bằng vẻ tận tụy, bằng áp lực mục vụ. Nhưng tận sâu, chúng cho thấy một điều: sứ vụ đã bắt đầu trở thành nơi bản ngã trú ngụ.

Một linh mục trẻ có thể khởi đầu với ý ngay lành, nhưng nếu không rất tỉnh thức, ngài sẽ từ từ biến công việc của Chúa thành chiếc gương để nhìn chính mình. Khi giáo xứ đông hơn, ngài vui không chỉ vì các linh hồn đến với Chúa, mà còn vì thấy mình “làm được việc”. Khi một chương trình thành công, ngài vui không chỉ vì điều tốt cho cộng đoàn, mà còn vì tên tuổi mình được xác nhận. Khi giáo dân quý mến, ngài cảm thấy mình có giá trị. Khi bị phê bình, ngài đau không chỉ vì sự thật bị bóp méo, mà còn vì hình ảnh bản thân bị tổn thương. Khi phải chuyển đi, ngài khổ không chỉ vì yêu đoàn chiên, mà còn vì mất một vùng ảnh hưởng đã gắn với căn tính của mình. Đây là chỗ rất cần sự thật. Không phải để kết án chính mình, nhưng để được chữa lành. Bởi vì bao lâu linh mục chưa nhận ra sứ vụ đang bị bản ngã len vào, bấy lâu mọi nhiệt thành vẫn có nguy cơ bị ô nhiễm từ bên trong.

Cơn cám dỗ hoạt động vì thế không đơn giản là “làm nhiều việc”. Vấn đề không nằm ở số lượng công việc, nhưng ở chỗ công việc ấy đã chiếm chỗ của Chúa trong lòng chưa. Một linh mục có thể làm rất nhiều mà vẫn rất thánh, nếu mọi việc đều được neo vào cầu nguyện, được thanh luyện trong thinh lặng, được dâng lên trong tinh thần hiến tế, được làm với sự tự do nội tâm, không chiếm hữu, không lấy thành quả làm căn tính. Nhưng một linh mục cũng có thể làm ít hơn mà vẫn đầy cái tôi, nếu trong lòng ngài, điều ngài tìm kiếm sau cùng không phải là thánh ý Chúa mà là cảm giác mình có ích, mình đang quan trọng, mình đang hiện diện mạnh mẽ trong mắt người khác. Cho nên, cơn cám dỗ hoạt động không đo bằng lịch làm việc dày hay thưa, mà đo bằng câu hỏi này: nếu hôm nay Chúa lấy khỏi con phần lớn những việc con đang làm, con có còn bình an trong tư cách là một linh mục không? Nếu hôm nay con không còn được ca ngợi, con có còn thấy mình có giá trị trước mặt Chúa không? Nếu hôm nay Nhà Tạm là nơi duy nhất Chúa giữ lại cho con, con có còn biết sống không?

Đó là câu hỏi rất quan trọng. Vì có một bi kịch âm thầm trong đời mục tử: linh mục có thể dạy giáo dân cầu nguyện mà chính mình không còn thực sự cầu nguyện; có thể giảng về đời nội tâm mà chính mình ít sống nội tâm; có thể mời gọi người khác trở về với Chúa mà chính mình lâu rồi không thực sự trở về; có thể nói về Nhà Tạm như trung tâm đời sống Kitô hữu, nhưng chính mình lại để Nhà Tạm ở rìa của ngày sống. Và điều đáng sợ là người ta vẫn có thể vận hành khá lâu trong tình trạng ấy. Vì trí thông minh, kỹ năng, kinh nghiệm, tài ứng biến, khả năng quản trị, sức nói, sự nhạy bén xã hội, tất cả những thứ ấy có thể giữ cho bộ máy bên ngoài vẫn chạy. Giáo dân có thể vẫn quý. Công việc có thể vẫn ổn. Lịch sinh hoạt có thể vẫn đầy. Nhưng bên trong, ngọn lửa đang đổi màu. Nó không còn là ngọn lửa của Thánh Thần tinh tuyền nữa, mà là ngọn lửa của căng thẳng, của khẳng định mình, của nỗ lực duy trì hình ảnh, của sự lệ thuộc vào công việc. Một lúc nào đó, nếu không quay lại, linh mục sẽ thấy mình mệt không chỉ ở thân xác, nhưng ở chính căn tính. Sẽ bắt đầu khó cầu nguyện thật. Khó ngồi yên thật. Khó vui đơn sơ thật. Khó yêu mà không đòi đáp thật. Khó chịu được việc mình không được hiểu, không được nhìn nhận, không được thành công như kỳ vọng. Bởi vì trong thâm tâm, ngài không còn chỉ làm việc cho Chúa nữa, mà đang dùng việc Chúa để giữ chính mình đứng vững.

Nơi đây, con đường trở về không phải là bỏ sứ vụ, nhưng là trở về với Nhà Tạm. Nói đúng hơn, trở về với Nhà Tạm không chỉ là một lòng đạo đẹp, nhưng là một hành vi cứu căn tính linh mục. Nhà Tạm là nơi bản ngã không thể sống theo luật riêng của nó quá lâu. Vì trước Thánh Thể, những lớp áo ngoài dần dần rơi xuống. Trước Thánh Thể, không ai còn là nhà tổ chức, nhà thuyết giảng, người quản trị, người điều hành, người thành công, người bị hiểu lầm, người được mến mộ hay bị quên lãng. Trước Thánh Thể, linh mục chỉ còn là một người nghèo trước mặt Chúa. Một người cần được cứu. Một người cần được nuôi. Một người cần được nhắc lại rằng mình không phải là nguồn mạch. Một người cần nghe lại câu hỏi căn bản: con có yêu Thầy không? Không phải: con làm được bao nhiêu cho Thầy. Không phải: con có bao nhiêu giáo dân. Không phải: con xây được những gì. Mà là: con có yêu Thầy không? Và yêu Thầy có nghĩa là gì? Nghĩa là con có ở lại với Thầy không, ngay cả khi không có gì hấp dẫn, không có gì kích thích, không có gì làm con thấy mình đang hiệu quả? Con có dám để một giờ chầu chỉ là một giờ ở đó với Thầy, không thành tích, không công trình, không ai thấy, không ai khen, không ai nhắc, chỉ có con và Thầy?

Nhà Tạm là nơi căn tính linh mục được trả về đúng chỗ. Linh mục trước hết không phải là người làm nghề tôn giáo. Không phải là người quản trị cộng đoàn. Không phải là một nhân vật xã hội được kính trọng. Linh mục trước hết là người được gọi để ở với Chúa Giêsu và được sai đi. Thứ tự ấy không được đảo. “Ở với” đi trước “được sai đi”. Nếu bỏ mất “ở với”, thì “được sai đi” sẽ sớm muộn biến thành một cuộc lao động tôn giáo. Nếu bỏ mất “ở với”, thì mọi hoạt động dễ trở thành một hệ thống phục vụ cái tôi. Nếu bỏ mất “ở với”, thì lời giảng sẽ dần thiếu dầu. Nếu bỏ mất “ở với”, thì mục vụ sẽ sớm biến thành kỹ thuật. Nếu bỏ mất “ở với”, thì linh mục có thể nói rất đúng mà vẫn không chạm tới chiều sâu linh hồn người khác. Vì người khác không chỉ nghe chữ. Họ còn chạm vào điều đang cháy hay không cháy bên trong người mục tử.

Trở về với Nhà Tạm vì thế là trở về với nguồn, trở về với lửa ban đầu, trở về với sự nghèo, trở về với chỗ mình không cần chứng tỏ gì nữa. Một linh mục trẻ muốn đi xa phải tập sống những giờ vô ích trước mặt Chúa, vô ích theo tiêu chuẩn của thế gian, nghĩa là không đo được bằng hiệu quả, không sinh ra báo cáo, không cho cảm giác “mình vừa làm được việc gì đó”. Chính những giờ ấy mới giữ cho linh mục khỏi bị nuốt chửng bởi hoạt động. Chính những giờ ấy mới rửa sạch những pha trộn vô hình trong động lực phục vụ. Chính những giờ ấy mới cứu trái tim khỏi trở thành cỗ máy tông đồ. Chính những giờ ấy mới làm cho linh mục có khả năng hiện diện chứ không chỉ vận hành. Có khi một linh mục trẻ sợ ngồi yên trước Nhà Tạm không phải vì bận thật, mà vì ở đó, ngài phải đối diện với chính mình: với sự trống rỗng, với cơn đói được nhìn nhận, với những tự ái chưa lành, với những so sánh âm thầm, với những tổn thương mục vụ, với nỗi sợ bị quên, với cái mỏi vì lâu rồi chỉ làm mà ít được yêu bởi chính Chúa. Nhưng chính vì thế mà phải trở về. Vì nếu không dám ở lại trước mặt Chúa, linh mục sẽ dần dần chỉ còn biết ở trước mặt con người.

Nhà Tạm cũng là nơi sứ vụ được thanh luyện khỏi bản ngã. Ở đó, Chúa không nói nhiều, nhưng ánh nhìn của Ngài làm lộ ra rất nhiều. Những điều ta từng gọi là thao thức có khi chỉ là lo lắng để giữ ảnh hưởng. Những điều ta từng gọi là tận tụy có khi chỉ là nỗi sợ bị xem là vô dụng. Những điều ta từng gọi là đau cho Hội Thánh có khi lại lẫn rất nhiều tự ái cá nhân. Những điều ta từng gọi là “con không chịu nổi vì công việc Chúa bị ảnh hưởng” có khi lại là “con không chịu nổi vì hình ảnh con bị động chạm”. Trước Nhà Tạm, nếu linh mục chịu để cho ánh mắt Chúa đi sâu vào lòng mình, sự thật sẽ hiện ra. Sự thật thường làm đau, nhưng cũng chỉ sự thật mới chữa lành. Và lạ lùng thay, khi một linh mục dám để Chúa đụng vào những chỗ ấy, ngài không nhỏ đi, mà lớn lên. Không yếu đi, mà thật hơn. Không mất lửa, mà lửa sạch hơn. Không bỏ sứ vụ, mà sứ vụ được cứu khỏi cái tôi. Không bớt nhiệt thành, mà nhiệt thành thôi bị pha trộn quá nhiều bởi nhu cầu tự khẳng định.

Cũng chính tại Nhà Tạm, linh mục trẻ học lại thế nào là ở một mình với Chúa mà không sợ. Người trẻ thời nào cũng có nguy cơ sợ khoảng trống. Nhưng thời này còn sợ khoảng trống hơn nữa, vì mọi thứ đều dễ làm cho người ta luôn bị kéo ra khỏi chính mình: điện thoại, tin nhắn, thông báo, lịch họp, công việc, phản hồi, dư luận, những đòi hỏi không ngừng. Một linh mục trẻ có thể cả ngày không có một khoảng thinh lặng thật. Và khi không có thinh lặng, đời nội tâm không chết ngay, nhưng sẽ thiếu oxy. Lâu dần, linh mục không còn nghe rõ tiếng Chúa, chỉ còn nghe rõ những gì đang gấp. Không còn phân định bằng ánh sáng nội tâm, mà chỉ phản ứng theo áp lực trước mắt. Không còn ra quyết định từ một lòng đã thấm Chúa, mà từ một đầu óc quá tải và một trái tim dễ bị kéo đi bởi cảm xúc. Bởi thế, trở về với Nhà Tạm cũng là trở về với thinh lặng, với khả năng ngồi yên mà không phải làm gì cả ngoài việc để mình được Chúa nhìn. Thoạt đầu rất khó. Vì ta đã quen định nghĩa giá trị của mình bằng hoạt động. Nhưng dần dần, ở đó, linh mục học lại điều nền tảng nhất: trước khi con làm điều gì cho Ta, con được yêu bởi Ta. Trước khi con phải chứng minh mình là mục tử tốt, con là người con được Cha gọi tên. Trước khi con đi tìm các linh hồn, con phải để linh hồn mình được tìm thấy.

Một linh mục trẻ chỉ thực sự an toàn khi ngài có một nơi mà mình không cần phải biểu diễn, không cần phải trả lời kỳ vọng, không cần phải giữ hình ảnh, không cần phải thành công. Nơi ấy chính là Nhà Tạm. Ở đó, ngài được phép mệt, được phép nghèo, được phép khô khan, được phép không biết phải nói gì, được phép mang những vết thương của mình, được phép ngồi im, được phép khóc, được phép thưa với Chúa rằng mình đang lạc hướng, rằng mình đang bị hút vào công việc quá nhiều, rằng mình đang bắt đầu sống nhờ lời khen, rằng mình đang sợ bị quên, rằng mình đang thấy mình chỉ còn là một cỗ máy giải quyết việc nhà xứ. Và chính khi dám nói thật như thế trước Chúa, việc trở về mới bắt đầu. Không ai trở về thật nếu không bước vào sự thật. Không linh mục nào được cứu bởi việc tiếp tục đóng vai một người mạnh mẽ. Linh mục được cứu khi dám nghèo trước Thiên Chúa.

Con đường trở về với Nhà Tạm rồi sẽ dẫn linh mục trở về với chính sứ vụ, nhưng là một sứ vụ khác: nhẹ hơn, sạch hơn, hiền hơn, ít chiếm hữu hơn, ít căng hơn, ít cần phải kiểm soát hơn. Một linh mục đã ngồi lâu trước Nhà Tạm theo đúng nghĩa sẽ bớt nói từ cái tôi và bắt đầu nói từ chiều sâu. Bớt cần mình phải xuất hiện ở trung tâm. Bớt bị cuốn vào sự so sánh. Bớt buồn quá mức khi không được nhìn nhận. Bớt cay đắng khi gặp hiểu lầm. Bớt nóng nảy khi người khác không làm theo ý mình. Bớt sợ việc người khác làm tốt. Bớt cần sứ vụ như nơi để chứng minh giá trị bản thân. Không phải vì ngài đã hết yếu đuối, nhưng vì ngài đã có một chỗ để đem yếu đuối ấy về. Một chỗ để được Chúa sắp xếp lại thứ tự trong lòng. Một chỗ để được nhắc nhớ rằng mình là khí cụ chứ không phải nguồn mạch. Một chỗ để được nghe lại tiếng gọi đầu tiên, tiếng gọi không hứa hẹn thành công nhưng hứa hẹn sự hiện diện của Chúa: “Hãy theo Thầy.”

Linh mục trẻ cần đặc biệt canh giữ điều này: đừng để sứ vụ nuốt mất linh hồn mình. Đừng để người ta lấy nơi mình quá nhiều mà mình không biết trở về để được Chúa lấp đầy. Đừng để những thành quả đẹp bên ngoài làm mình quên chăm chút nguồn dầu bên trong. Đừng để việc “làm cho Chúa” trở thành cái cớ để “không ở với Chúa”. Đừng để mình sống bằng việc giáo dân cần mình hơn là bằng việc Chúa muốn mình. Đừng để mình sợ mất công việc hơn sợ mất đời nội tâm. Đừng để Nhà Tạm thành nơi ghé qua giữa các việc, thay vì là trung tâm từ đó mọi việc đi ra và quay về. Một linh mục mất Nhà Tạm ở trung tâm, sớm muộn sẽ có cái khác lên thay chỗ: công việc, hình ảnh, thành công, ảnh hưởng, nỗi sợ, cái tôi, hoặc một sự trống rỗng âm thầm. Còn một linh mục giữ được Nhà Tạm ở trung tâm, dù rất bận, vẫn có thể còn mình. Vì ở giữa mọi tiếng động, ngài còn một nơi không ồn. Ở giữa mọi kỳ vọng, ngài còn một ánh mắt không đòi hỏi ngoài tình yêu. Ở giữa mọi thành bại, ngài còn một sự hiện diện không đổi thay. Ở giữa mọi biến động, ngài còn một nền.

Sau cùng, linh mục trẻ không cần trước hết là thêm kỹ năng, thêm chương trình, thêm ảnh hưởng, thêm hoạt động. Điều ngài cần hơn hết là một trái tim không để mất trung tâm. Một trái tim biết quay về. Một trái tim không xấu hổ vì phải ngồi lại trước Nhà Tạm thật lâu. Một trái tim không coi cầu nguyện là thứ còn sót lại sau công việc, nhưng là hơi thở trước mọi công việc. Một trái tim biết sợ điều này hơn mọi điều khác: sợ mình vẫn còn làm việc cho Chúa mà lòng lại rời xa Chúa. Nếu giữ được nỗi sợ thánh ấy, linh mục sẽ được bảo vệ. Và nếu một ngày ngài thấy mình đã đi chệch, thì đừng hoảng. Chỉ cần quay về. Quay về với Nhà Tạm. Quay về với giờ chầu. Quay về với Lời Chúa không phải để soạn bài giảng nhưng để nuôi linh hồn. Quay về với sự nghèo. Quay về với tiếng thưa đơn sơ: “Lạy Chúa, con mệt. Con lẫn lộn. Con đã để việc của Chúa chiếm mất chỗ của Chúa trong lòng con. Xin kéo con về.” Một lời cầu như thế, nếu thật, có thể cứu cả một đời mục tử.

Sau tất cả những nhiệt thành của tuổi trẻ, sau tất cả những năm tháng chạy đi không biết mệt, sau biết bao lần xây rồi sửa, biết bao lần bắt đầu rồi lại phải bỏ dở, biết bao lần tưởng mình đang nắm được điều gì đó rất chắc trong tay mà rồi một ngày chợt nhận ra tất cả chỉ như cát chảy qua kẽ ngón, người linh mục già ngồi lại. Không còn ngồi lại như một người còn đang chuẩn bị cho chuyến đi xa, nhưng như một người đã đi gần hết con đường. Không còn ngồi lại để lập thêm kế hoạch, nhưng ngồi lại để nhìn. Không còn nhìn như người muốn chiếm lấy tương lai, nhưng như người đang để ký ức và ân sủng đi qua trái tim mình lần cuối thật chậm, thật sâu, thật hiền. Và trong cái nhìn ấy, nhiều thứ bắt đầu đổi nghĩa.

Hồi còn trẻ, người ta nghĩ đời linh mục là những điều lớn. Là những bài giảng chạm tới lòng người. Là những nhà thờ được xây. Là những giáo xứ được phục hồi. Là những hội đoàn lớn lên. Là những mùa Giáng Sinh đông đúc. Là những Tuần Thánh sốt sắng. Là những đoàn người tìm đến tòa giải tội. Là những lớp giáo lý rộn ràng. Là những lần đi thăm bệnh nhân, làm phép nhà, đồng hành với người hấp hối, nâng một gia đình qua khủng hoảng, dựng một người trẻ dậy từ vấp ngã. Tất cả những điều ấy đều đẹp. Và quả thật, chúng làm nên dung mạo rất thật của đời mục tử. Nhưng khi về già, người linh mục mới hiểu rằng tất cả những điều ấy, dù đẹp đến đâu, cuối cùng cũng chỉ là những cánh hoa nở rồi rụng trên đường. Không phải vô nghĩa, không phải mất hết, nhưng không phải điều sau cùng còn lại. Nhà thờ có thể cũ. Công trình có thể được sửa lại bởi những người đến sau. Những chương trình từng rất thành công rồi cũng qua mùa. Những người từng gọi tên cha tha thiết rồi cũng già, cũng đi xa, cũng chết. Những em bé chịu phép Rửa ngày xưa nay tóc đã bạc. Những cuộc tranh luận từng làm mình mất ngủ bây giờ nhìn lại nhỏ như hạt bụi. Những lần bị hiểu lầm từng tưởng như đau không chịu nổi, nay chỉ còn là một thoáng buồn mỏng. Những lời khen năm xưa tan nhanh như gió. Những đóng góp người ta từng nhắc tới rồi cũng chìm vào quên lãng. Và cả chính khuôn mặt mình, một ngày nào đó, cũng sẽ không còn mấy ai nhớ rõ nữa.

Đó không phải là một bi kịch. Đó là sự thật rất hiền của kiếp người. Và chỉ ai đủ già trong Chúa mới không cay đắng khi nhìn vào sự thật ấy. Người chưa chín trong đời thiêng liêng, đến tuổi già rất dễ buồn vì thấy mình bị rơi khỏi trung tâm. Người chưa để Chúa thanh luyện đủ, khi thấy công trình mình từng yêu không còn mang dấu tay mình nữa, rất dễ thấy trống. Người chưa học bài học “chọn Chúa, không chọn việc của Chúa”, đến những năm cuối sẽ rất khổ. Vì tuổi già là giờ Chúa lặng lẽ rút từng thứ khỏi tay người ta. Sức lực rút đi. Trí nhớ rút đi. Tiếng nói yếu đi. Bước chân chậm lại. Tầm ảnh hưởng hẹp dần. Những chỗ từng cần mình nay không còn cần như trước nữa. Những gì mình làm được ngày xưa nay người khác làm. Những gì mình từng điều hành nay phải trao lại. Những gì mình từng ôm trong lòng nay phải đặt xuống. Tuổi già, nếu nhìn theo xác thịt, là một chuỗi bị lấy đi. Nhưng tuổi già trong Chúa có thể trở thành một mùa gặt lớn nhất, vì đó là mùa cuối cùng Chúa dạy người linh mục buông hết để chỉ còn bám lấy một mình Ngài.

Người linh mục già ngồi lại và bắt đầu hiểu: điều đẹp nhất của đời mình không phải là những lúc mình mạnh, mà có khi lại là những lúc mình yếu mà vẫn trung tín. Không phải là những khi nhà thờ đông, mà có khi lại là những đêm một mình trước Nhà Tạm không ai biết. Không phải là những bài giảng làm người ta xúc động, mà có khi là một thánh lễ sáng ngày thường, dâng với đôi tay run run nhưng tim còn nóng. Không phải là những công trình ai cũng thấy, mà có khi là những giọt nước mắt mình đã nuốt vào trong những mùa rất cô đơn để vẫn không bỏ đoàn chiên. Không phải là những lúc mình được mến mộ, mà có khi là những lần mình bị hiểu lầm nhưng vẫn không để lòng mình hóa đắng. Không phải là những giai đoạn mình làm được rất nhiều, mà có khi là những năm tháng cuối chỉ còn biết cầu nguyện, đau bệnh và hiến dâng. Chỉ khi già, người linh mục mới hiểu sâu điều này: Thiên Chúa không cần trước hết thành công của mình; Thiên Chúa cần trái tim mình. Công trình có thể lớn hay nhỏ, hoa trái có thể nhiều hay ít, nhưng điều Chúa cầm về cuối ngày vẫn là trái tim ấy, trái tim đã yêu Ngài tới đâu, đã ở với Ngài đến mức nào, đã để Ngài chiếm trọn ra sao.

Có một nỗi buồn rất kín của tuổi già linh mục là cảm giác mình đang dần trở thành người đứng bên lề ngay trong cánh đồng mình từng đổ máu và mồ hôi. Người khác quyết định. Người khác sắp xếp. Người khác bắt đầu theo cách của thời mới. Những điều từng rất quan trọng với mình, với lớp mình, nay có thể không còn được nhìn theo cùng một cách. Nếu không có Chúa, điều ấy dễ làm tim già cứng lại. Nhưng nếu cả đời đã học buông dần, thì chính tuổi già trở thành một phụng vụ âm thầm của sự trao lại. Người linh mục già bắt đầu hiểu rằng mình chưa bao giờ là chủ cánh đồng. Mình chỉ là đầy tớ được gọi vào làm giờ này rồi sẽ ra giờ khác. Mình chưa bao giờ là nguồn mạch của ân sủng. Mình chỉ là ống dẫn mong manh. Mình chưa bao giờ cứu được ai. Chỉ Chúa cứu. Mình chỉ được diễm phúc đứng gần những giờ cứu độ ấy. Hiểu như thế, tuổi già không còn là thất bại. Nó là giờ cuối của sự thật. Giờ Chúa nhắc nhẹ vào linh hồn: con thấy không, mọi điều con từng tưởng phải giữ bằng được, cuối cùng cũng phải đặt xuống. Chỉ còn Ta. Và nếu linh hồn ấy trả lời được: “Lạy Chúa, chỉ còn Chúa là đủ”, thì tuổi già của người linh mục trở thành một bài giảng rất lớn, có khi lớn hơn tất cả những bài giảng ngài từng nói khi còn trẻ.

Người linh mục già nhìn lại đời mình, và trong ký ức hiện lên không chỉ những thành công, mà rất nhiều khuôn mặt. Những khuôn mặt trẻ thơ ngày mình đổ nước Rửa tội trên đầu chúng. Những đôi mắt sáng của thiếu nhi rước lễ lần đầu. Những gương mặt run run của hối nhân bước ra khỏi tòa giải tội. Những người hấp hối nắm lấy tay mình như nắm chiếc phao cuối cùng giữa đêm. Những bà mẹ nghèo lặng lẽ nhờ cha cầu nguyện cho đứa con hư. Những người chồng say rượu. Những cô gái trẻ khóc vì đổ vỡ. Những người thanh niên từng hăng hái giúp lễ nay đã làm cha làm mẹ. Những cụ già từng chờ cha đến xức dầu nay đã nằm dưới đất lạnh. Những người đã chống đối mình, rồi một ngày cũng già đi, yếu đi, và có khi ra đi trước cả mình. Những người từng yêu quý mình, từng đặt vào mình nhiều kỳ vọng. Những người mình đã không giúp được như lòng muốn. Những người mình đã lỡ làm họ đau vì sự nóng nảy, sự thiếu tế nhị, sự giới hạn của mình. Những người mình đã thật lòng thương, nhưng không đủ sức đi cùng tới cuối. Tuổi già làm ký ức thành một cánh đồng đầy bóng người. Và người linh mục già hiểu rằng đời mình không phải là một chuỗi công việc, nhưng là một chuỗi gặp gỡ. Không phải là một bảng thành tích, mà là một dòng chảy ân sủng đi qua biết bao thân phận. Nhiều điều mình tưởng mình đã làm, thật ra chỉ là Chúa thương dùng đôi tay mình một chút. Nhiều điều mình tưởng mình thất bại, có khi lại chính là nơi Chúa âm thầm gieo hạt mà mình không biết. Nhiều người mình nghĩ họ không đổi, có khi trong lòng họ Chúa đã làm một việc gì đó từ rất lâu mà chỉ khi về già mình mới nhìn lại với con mắt hiền hơn để hiểu.

Có lẽ đến tuổi ấy, điều làm người linh mục khóc không phải là tiếc nuối vì không nổi tiếng hơn, không thành công hơn, không để lại nhiều dấu ấn hơn. Điều làm ngài khóc là thấy mình đã được Chúa thương quá nhiều. Thương qua bao lần ngã mà không bỏ. Thương qua bao lần nguội mà vẫn gọi lại. Thương qua bao lần lẫn lộn giữa Chúa và việc của Chúa mà Chúa vẫn kiên nhẫn thanh luyện. Thương qua những giai đoạn bề ngoài tưởng như mất mát mà sau này mới hiểu đó là lúc Chúa giữ mình khỏi lạc xa. Thương qua những lần thất bại làm mình nhục, nhưng chính nhục ấy cứu mình khỏi kiêu. Thương qua những đau khổ mà nếu không có nó, linh mục sẽ chỉ là người nói hay chứ không biết khóc với đoàn chiên. Thương qua cả những năm tháng bệnh tật cuối đời, khi Chúa như tháo dần từng chiếc đinh đóng mình vào hoạt động để dạy mình ở lại trần trụi hơn với Ngài. Người linh mục già bắt đầu hiểu rằng đời mình được dệt bằng lòng thương xót nhiều hơn bằng sức riêng. Và hiểu như thế, ngài hiền đi rất nhiều.

Có một vẻ đẹp rất riêng của linh mục già đã đi qua thanh luyện. Đó là vẻ đẹp của một người không còn cần phải chứng tỏ gì nữa. Không cần phải thắng trong một cuộc tranh luận. Không cần phải được nhắc tên. Không cần phải giữ tiếng tăm. Không cần phải là người quan trọng nhất trong phòng. Không cần phải để lại dấu tay trên mọi việc. Không cần phải làm cho người khác thấy mình vẫn còn mạnh. Người ấy nhẹ. Mắt người ấy sâu hơn. Lời người ấy ít hơn nhưng chạm hơn. Sự hiện diện của người ấy không ồn, nhưng mang bình an. Có khi chỉ cần ngồi đó thôi cũng làm người khác muốn sống tử tế hơn. Có khi chỉ một dấu thánh giá run run, một lời chúc lành ngắn, một câu nói nhỏ “cứ phó thác cho Chúa”, đã nặng hơn rất nhiều bài diễn thuyết. Vì lời ấy không đi ra từ lý thuyết. Nó đi ra từ một đời đã bị bẻ ra, đã cháy, đã khóc, đã hy sinh, đã mất, đã tha thứ, đã ở lại, và sau cùng đã chọn Chúa hơn mọi điều khác.

Nhưng cũng chính tuổi già làm người linh mục đối diện một nỗi cô đơn rất thẳm. Bạn bè cùng lớp thưa dần. Người đi trước. Người đau yếu. Người sa sút. Người mất trí nhớ. Người nằm liệt. Người không còn nhận ra nhau. Những dịp họp mặt hiếm dần rồi cũng vắng dần. Những khuôn mặt từng trẻ trung dưới mái chủng viện nay lưng còng, mắt mờ, giọng yếu. Nhìn bạn mình như thế, linh mục già thấy thấp thoáng chính mình. Cái chết không còn là khái niệm nữa. Nó đứng gần. Rất gần. Và lúc ấy, tất cả những công trình, những chức vụ, những vai trò, những tranh chấp, những tự hào, những so sánh, mọi thứ như rơi xuống rất nhanh. Chỉ còn lại một câu hỏi lặng: mình đã yêu Chúa tới đâu? Đã thuộc về Chúa thật chưa? Đã để Chúa là gia nghiệp chưa? Hay tận sâu vẫn còn buộc vào những điều rồi sẽ tan như mây? Câu hỏi ấy làm người linh mục già không còn muốn sống cạn nữa. Không còn muốn phí phần còn lại vào những chuyện nhỏ. Không còn muốn mang oán trách tới cuối đời. Không còn muốn đem theo những cay đắng cũ. Không còn muốn níu lại hình ảnh về mình. Người ấy chỉ muốn nhẹ để đi. Chỉ muốn lòng đủ đơn sơ để thưa lần cuối: “Lạy Chúa, con về đây.”

Và lúc ấy, tất cả những gì đời linh mục đã sống được gom lại trong một điều rất ngắn: tình yêu với Chúa là điều ở lại. Mọi công trình rồi qua đi. Những ngôi nhà thờ rồi sẽ được sửa. Những bài giảng rồi sẽ bị quên. Những cuộc họp rồi sẽ không ai nhớ. Những chương trình rồi sẽ đổi tên. Những người từng tung hô rồi sẽ chuyển sang người khác. Những lớp học rồi sẽ tan. Những việc mình từng xem rất lớn rồi cũng lùi vào bóng thời gian. Nhưng một thánh lễ dâng với tình yêu thì không mất. Một giờ chầu đẫm nước mắt thì không mất. Một lần tha thứ rất khó nhưng đã làm được thì không mất. Một đau bệnh được hiến dâng âm thầm thì không mất. Một linh hồn đã được ôm bằng lòng thương xót thì không mất. Một đêm người linh mục quỳ một mình và nói với Chúa “con không hiểu gì nữa nhưng con vẫn chọn Chúa” thì không mất. Mọi điều ấy đi vào vĩnh cửu. Mọi điều ấy ở lại trước mặt Chúa. Cho nên, người linh mục già không còn tiếc nhiều vì những gì đã qua. Điều làm ngài khắc khoải chỉ là một điều: lẽ ra mình đã có thể yêu Chúa hơn. Lẽ ra mình đã có thể ở với Nhà Tạm lâu hơn. Lẽ ra mình đã có thể hiền hơn với một vài người. Lẽ ra mình đã có thể bớt tự ái, bớt nóng, bớt muốn chứng minh mình đúng. Lẽ ra mình đã có thể tin Chúa hơn trong vài mùa tối. Chính những tiếc nuối ấy làm tuổi già của linh mục trở thành một lời mời gọi thầm lặng cho lớp trẻ: đừng đợi tới khi già mới biết Chúa là đủ.

Có lẽ đẹp nhất là khi người linh mục già không còn nhìn đời mình như một chuỗi việc mình đã làm, mà như một bài ca về lòng trung tín của Thiên Chúa. Khi đó, ngay cả những chỗ dang dở cũng sáng lên. Những chương dang dở không còn làm ngài xấu hổ. Những thất bại không còn chỉ là thất bại. Những đổi thay đau đớn không còn chỉ là vết cắt. Tất cả đều trở thành những nét Chúa dùng để vẽ nên khuôn mặt cuối cùng của đời mục tử. Một khuôn mặt có thể không rực rỡ trong mắt người đời, nhưng hiền. Một khuôn mặt có thể không còn mạnh mẽ, nhưng sâu. Một khuôn mặt có thể không còn làm được nhiều, nhưng biết chúc lành. Và chính đó là một dung mạo rất đẹp của linh mục già: người không còn ôm cánh đồng, nhưng vẫn yêu cánh đồng; người không còn đứng ở trung tâm, nhưng vẫn mang đoàn chiên trong tim; người không còn nói được những bài giảng dài, nhưng đời mình đã thành bài giảng; người không còn chạy được tới mọi nơi, nhưng lời cầu của mình đi rất xa; người không còn dựng được công trình mới, nhưng sự hiện diện của mình làm người khác nhớ tới trời.

Những năm cuối, người linh mục già nhiều khi chỉ còn rất ít: một chiếc giường, một cuốn sách kinh, một tràng chuỗi, một Nhà Tạm gần đó, một vài người còn lui tới thăm, những cơn đau thân xác, những đêm ngủ chập chờn, một trí nhớ lúc còn lúc mất. Nhưng chính lúc ấy, đời linh mục trở nên tinh ròng nhất. Không còn gì để dựa ngoài Chúa. Không còn gì để khoe ngoài lòng thương xót. Không còn gì để nắm ngoài bàn tay Chúa. Không còn gì để trình lên ngoài một cuộc đời nhiều thiếu sót nhưng đã cố yêu. Và lạ thay, đó lại là lúc linh mục gần với Chúa Kitô nhất. Gần Chúa Kitô trong sự bị lấy đi. Gần Chúa Kitô trong sự bất lực. Gần Chúa Kitô trong thân xác hao mòn. Gần Chúa Kitô trong sự nghèo. Gần Chúa Kitô trong lời phó thác cuối cùng. Lúc ấy, người linh mục hiểu sâu điều mình đã giảng suốt cả đời: hạt lúa mì phải mục đi. Bánh phải được bẻ ra. Con người phải buông để đi vào tay Chúa. Và nếu đã sống đủ lâu với Nhà Tạm, người linh mục già sẽ không sợ điều ấy quá nữa. Người ấy biết mình đang đi vào chính Đấng mà mình đã nâng trên tay mỗi ngày. Đi vào Chúa mà mình đã giảng, đã trao, đã yêu, đã nhiều lần phụng sự cách vụng về nhưng chân thành. Đó là an ủi lớn nhất.

Thế nên, người linh mục già nhìn lại đời mình và nói rất khẽ trong lòng: mọi sự rồi qua đi. Những công trình rồi qua đi. Những tranh cãi rồi qua đi. Những chức vụ rồi qua đi. Những vinh dự rồi qua đi. Những hiểu lầm rồi qua đi. Những thành công rồi qua đi. Những lần người ta nhớ tên rồi cũng qua đi. Chỉ còn tình yêu với Chúa là ở lại. Chỉ còn những gì đã làm vì Chúa trong sạch là ở lại. Chỉ còn những giọt nước mắt đã được dâng là ở lại. Chỉ còn những đau khổ đã được hiến tế là ở lại. Chỉ còn những tha thứ rất khó đã được chấp nhận là ở lại. Chỉ còn những đêm âm thầm trước Nhà Tạm là ở lại. Chỉ còn trái tim đã để cho Chúa chiếm hữu là ở lại. Và nếu vậy, thì đời linh mục, sau cùng, không hệ tại ở chỗ mình đã thành tựu bao nhiêu, mà ở chỗ mình có để cho Chúa yêu mình tới cùng hay không, và mình có yêu lại Ngài bằng tất cả những gì mình có, cả khi mạnh lẫn khi yếu, cả khi được dùng lẫn khi bị lấy đi, cả khi được người ta nhớ đến lẫn khi bị quên dần đi trong trí nhớ nhân gian.

Sau những mạch suy niệm dài, sau những đêm tối, sau những nhà tù hữu hình và vô hình, sau Thánh Thể trong cô quạnh, sau những năm trẻ trung đầy thao thức, sau những công trình được xây và những công trình phải bỏ dở, sau những lần bị hiểu lầm, sau những lần thành công và cả những lần thất bại, sau những mùa hăng say và những mùa khô cạn, sau những bài giảng đã nói, những thánh lễ đã dâng, những giọt nước mắt đã chảy, những vết thương đã mang, những lần phải buông, những lần phải lùi, những lần tưởng như mình không còn gì nữa, người linh mục đi đến phần cuối của đời mình như đi đến một khoảng rất sâu của thinh lặng, nơi mọi tiếng ồn dần rút lui, nơi mọi lời biện minh không còn cần thiết nữa, nơi mọi hình ảnh về bản thân cũng dần dần rơi xuống, nơi chỉ còn lại một điều duy nhất: một linh hồn đứng trước mặt Thiên Chúa của mình.

Phần cuối ấy không còn là giờ của lý luận. Không còn là giờ của chứng minh. Không còn là giờ của việc kể công hay biện hộ cho mình. Không còn là giờ của những gì người đời gọi là quan trọng. Nó là giờ của sự thật. Và sự thật, sau cùng, bao giờ cũng rất đơn sơ. Người linh mục nhìn lại cả quãng đường dài của mình và hiểu ra rằng đời mình chưa bao giờ thực sự thuộc về những gì mình đã làm, nhưng thuộc về Đấng đã gọi mình. Những năm tháng đầu đời, khi còn là một cậu chủng sinh trẻ với trái tim nhiều lửa, mình tưởng rằng ơn gọi là được đi xa, được làm điều lớn, được sống hữu ích, được trở nên khí cụ mạnh mẽ trong tay Chúa. Rồi những năm linh mục đầu tiên đến, mỗi điều đều mới, mỗi công việc đều làm tim rung lên, mỗi thánh lễ đều như một lần đầu, mỗi người đến với mình đều như một thế giới để khám phá, mỗi bài giảng đều như một nén lửa muốn trao cho cộng đoàn. Rồi thời gian trôi đi, nhiệt thành ấy đi qua thử thách, đi qua va chạm, đi qua mệt mỏi, đi qua hiểu lầm, đi qua cô đơn, đi qua giới hạn, đi qua những mùa thành công làm mình dễ tưởng mình mạnh, và đi qua những mùa thất bại làm mình thấy mình chỉ là đất sét. Chính trong tất cả những chặng đường ấy, Chúa đã âm thầm làm một việc lớn hơn mọi công trình mình tưởng mình đang làm: Chúa đào tạo trái tim mình.

Giờ đây, khi nhìn lại, người linh mục không còn nhìn đời mình như một chuỗi công việc, nhưng như một cuộc thanh luyện tình yêu. Ban đầu mình yêu Chúa và yêu việc của Chúa lẫn vào nhau. Mình tưởng hai điều ấy là một. Và quả thật, chúng gần nhau lắm. Gần đến mức nếu Chúa không đưa mình đi qua những mùa bị lấy đi, bị cắt bớt, bị hạ xuống, bị bắt phải buông, thì có lẽ mình sẽ không bao giờ phân biệt được. Mình đã yêu giáo xứ, yêu cộng đoàn, yêu phụng vụ, yêu giảng dạy, yêu tòa giải tội, yêu người nghèo, yêu người bệnh, yêu các lớp giáo lý, yêu những mùa đại lễ, yêu những việc rất đẹp trong nhà Chúa. Nhưng rồi Chúa dần dần hỏi mình một câu rất sâu, rất đau, rất hiền: con yêu Ta, hay con yêu những gì con được làm cho Ta? Câu hỏi ấy không đến một lần. Nó đi theo người linh mục suốt đời. Nó đến khi ngài bị đổi chỗ. Nó đến khi ngài bị hiểu lầm. Nó đến khi công trình dở dang. Nó đến khi sức khỏe yếu đi. Nó đến khi người khác thay chỗ mình. Nó đến khi mình không còn làm được như xưa. Nó đến khi nhà thờ vẫn còn đó nhưng tay mình không còn đủ mạnh để chăm như trước. Nó đến khi một bài giảng không còn vang như những ngày tuổi trẻ. Nó đến khi trí nhớ bắt đầu rơi rụng từng chút. Nó đến khi người ta ít nhắc tên mình hơn. Nó đến khi mình bị đẩy dần ra khỏi trung tâm. Và mỗi lần như thế, câu hỏi của Chúa lại vang lên âm thầm: con chọn ai?

Đời linh mục, sau cùng, là một hành trình học trả lời câu hỏi ấy bằng chính cuộc sống. Không phải bằng câu chữ. Không phải bằng khẩu hiệu. Không phải bằng những lời đạo đức đã quá quen. Nhưng bằng việc mỗi ngày để cho Chúa lấy dần khỏi tay mình những gì không phải là chính Ngài. Có khi Ngài lấy đi một công việc. Có khi một chỗ đứng. Có khi một dự định. Có khi một tương quan. Có khi một sức khỏe. Có khi một mùa hoạt động. Có khi một kiểu hiện diện mình rất yêu. Có khi cả một cánh đồng mình tưởng sẽ được ở đó đến cuối đời. Và trong tất cả những lần lấy đi ấy, Chúa không tàn nhẫn. Ngài đang làm công việc của người thợ cắt tỉa. Ngài không phá hủy cây, nhưng cắt bớt những gì làm cây không thể sinh trái sâu hơn. Ngài không khinh thường tình yêu phục vụ của mình, nhưng Ngài muốn tình yêu ấy sạch hơn, tự do hơn, bớt pha trộn hơn. Ngài không bảo mình thôi yêu việc của Chúa. Ngài chỉ muốn mình yêu Chúa hơn việc của Chúa.

Và đây là điều làm cho phần kết của đời linh mục trở nên vừa đau vừa đẹp: đến cuối cùng, Chúa dường như lấy đi gần hết những gì từng làm mình bận, từng làm mình thấy mình hữu ích, từng làm mình cảm được nhịp sống của sứ vụ. Tuổi già đến như một phụng vụ rất lạ. Nó không ồn ào. Nó không xin phép. Nó lặng lẽ tháo khỏi đời mình từng tầng từng lớp. Một ngày kia, tay bắt đầu run. Một ngày kia, mắt không còn đọc dễ nữa. Một ngày kia, trí nhớ bắt đầu trượt. Một ngày kia, giọng nói không còn mạnh. Một ngày kia, leo vài bậc thềm cũng thấy mệt. Một ngày kia, thánh lễ phải dâng chậm hơn. Một ngày kia, những người trẻ nhìn mình với lòng kính trọng nhưng không còn tìm đến với cùng một kiểu chờ đợi như trước nữa. Một ngày kia, mình nhận ra giáo xứ vẫn sống, nhà dòng vẫn chạy, Hội Thánh vẫn đi, ngay cả khi mình bắt đầu đứng bên lề. Và nếu người linh mục chưa học buông, giờ ấy sẽ là một đêm rất buồn. Nhưng nếu ngài đã để Chúa huấn luyện mình trong suốt bao năm, thì chính tuổi già lại là giờ nở hoa sau cùng. Vì ở đó, người linh mục được dạy bài cuối cùng của ơn gọi: con không bao giờ là chủ cánh đồng, con chỉ là người yêu Chủ cánh đồng.

Có lẽ vì thế mà những năm cuối đời của một linh mục thánh thiện thường có một vẻ đẹp không lời nào diễn tả hết. Đó không còn là vẻ đẹp của sức mạnh, nhưng là vẻ đẹp của sự hiền. Không còn là vẻ đẹp của ảnh hưởng, nhưng là vẻ đẹp của chiều sâu. Không còn là vẻ đẹp của điều hành, nhưng là vẻ đẹp của hiện diện. Không còn là vẻ đẹp của những bài giảng dài, nhưng là vẻ đẹp của một ánh mắt đã đi qua thập giá. Không còn là vẻ đẹp của bàn tay dựng nên nhiều công trình, nhưng là vẻ đẹp của đôi tay run run vẫn cố làm dấu thánh giá trên một linh hồn đau khổ. Không còn là vẻ đẹp của những chương trình thành công, nhưng là vẻ đẹp của một trái tim không đắng sau bao điều có thể làm nó đắng. Không còn là vẻ đẹp của một đời “làm được nhiều”, nhưng là vẻ đẹp của một đời “đã để Chúa yêu và thanh luyện đủ nhiều”.

Người linh mục già ngồi trước Nhà Tạm và bắt đầu thấy mọi sự đổi khác. Những gì ngày xưa tưởng lớn, nay trở nên rất nhỏ. Những gì ngày xưa tưởng không chịu nổi, nay chỉ còn là một đám mây đã qua. Những tranh cãi từng làm mất ngủ, bây giờ nhìn lại nhạt như sương. Những lời khen từng làm vui, bây giờ không còn sức nặng. Những lần bị chê từng làm mình tổn thương, nay cũng không còn nhức như cũ. Những dự án từng nghĩ là sống còn, bây giờ thấy rồi cũng chỉ là phương tiện. Những người từng chống đối, từng làm mình đau, bây giờ nghĩ lại chỉ thấy thương nhiều hơn giận. Những người mình từng hết lòng nâng đỡ, giờ có người còn, có người mất, có người xa, có người gần, tất cả đi qua trí nhớ như một dòng người bước ngang bàn thờ đời mình. Và người linh mục hiểu ra: điều ở lại không phải là âm vang của đời mình trong tai thiên hạ, mà là độ sâu của tình yêu mình dành cho Chúa.

Điều ấy làm ngài nghẹn ngào. Không phải nghẹn ngào vì hối tiếc theo kiểu cay đắng, nhưng nghẹn ngào vì nhận ra mình đã được thương quá nhiều. Chúa đã thương mình từ khi còn là một cậu bé chưa hiểu gì về ơn gọi. Chúa đã kiên nhẫn với mình trong những năm chủng viện khi mình còn nhiều lý tưởng nhưng cũng đầy ảo tưởng. Chúa đã không bỏ mình trong những ngày linh mục trẻ, khi bản ngã còn rất mạnh nhưng được che bằng vẻ sốt sắng. Chúa đã kéo mình lại trong những mùa chạy quá nhanh. Chúa đã để mình thất bại đúng lúc cần thất bại để khỏi kiêu. Chúa đã để mình bị hiểu lầm đúng lúc cần bị hiểu lầm để khỏi sống nhờ tiếng khen. Chúa đã cho mình những niềm vui đủ để khỏi ngã lòng, nhưng cũng đã cho mình những mất mát đủ để khỏi tôn thờ công trình. Chúa đã lấy đi nhiều thứ, nhưng chưa bao giờ lấy chính Ngài khỏi đời mình. Càng về cuối, người linh mục càng thấy rõ: cái bền nhất trong đời mình không phải là sự trung thành của mình đối với Chúa, nhưng là sự trung thành của Chúa đối với mình.

Bởi thế, lời trối thiêng liêng cuối cùng của người linh mục không còn là những dặn dò về công việc. Không còn là những chiến lược cho tương lai. Không còn là những chỉ dẫn để giữ lấy những gì mình từng làm. Sau một đời dài, ngài chỉ còn muốn nói một điều duy nhất: đừng để mất Chúa. Đừng lấy việc của Chúa thay cho Chúa. Đừng để công trình lớn hơn Nhà Tạm. Đừng để hiệu quả mục vụ lấn át đời nội tâm. Đừng để người ta cần mình hơn mức mình cần Chúa. Đừng để đến cuối đời mới nhận ra rằng điều quan trọng nhất đã bị đặt ở bên lề. Nếu đời linh mục là một trường học, thì bài học lớn nhất không phải là làm sao tổ chức tốt hơn, nói hay hơn, điều hành khéo hơn, quy tụ đông hơn. Bài học lớn nhất là làm sao giữ cho tim mình thuộc trọn về Chúa giữa tất cả những điều ấy. Và nếu đã giữ được điều đó, thì dù cuộc đời có nhìn như thành công hay thất bại, người linh mục vẫn không mất tất cả. Còn nếu mất điều đó, thì dù bề ngoài có vẻ huy hoàng, bên trong vẫn là nghèo.

Người linh mục già trước Nhà Tạm có thể không còn sức để giảng dài, nhưng trong lòng ngài lúc ấy có một bài giảng cuối cùng rất lớn, rất lặng, rất thật. Bài giảng ấy không cần micro. Không cần giáo án. Không cần cử chỉ. Nó được viết bằng một đời đã đi qua thanh luyện. Nó nói với lớp trẻ rằng: con ơi, hãy yêu Chúa khi còn sớm. Hãy học ngồi lại với Nhà Tạm khi còn sức. Hãy học cầu nguyện trước khi con trở nên quá quen với việc giải quyết mọi chuyện bằng khả năng. Hãy giữ lấy đời nội tâm trước khi hoạt động cuốn con đi. Hãy sợ cơn cám dỗ thành công hơn sợ thất bại, vì thành công dễ làm con quên mình hơn. Hãy biết nhận ra lúc nào bản ngã đang mặc áo sứ vụ. Hãy biết dừng lại khi tim con bắt đầu khô. Hãy xin ơn khóc trước mặt Chúa hơn là khóc vì bị động chạm danh dự. Hãy học tha thứ sớm, để khỏi mang theo cả một nhà tù vào tuổi già. Hãy để cho Thánh Thể thật sự trở thành lương thực, chứ đừng chỉ là nghi lễ con cử hành. Hãy nhớ rằng đến cuối cùng, chẳng gì trong tay con ở lại cả, chỉ có tình yêu với Chúa là còn.

Có những buổi chiều cuối đời, người linh mục ngồi một mình, nắng đổ nghiêng qua khung cửa, Nhà Tạm im lặng phía trước, không còn nhiều người quanh mình, không còn nhiều việc thúc, không còn những chương trình dày đặc, chỉ còn một sự hiện diện âm thầm và một trái tim đã đi gần hết con đường. Trong những giây phút ấy, ngài có thể hiểu sâu hơn tất cả những gì mình đã giảng về phó thác. Phó thác không còn là một chủ đề để trình bày. Nó là một nhịp thở. Nó là việc đặt từng mảnh ký ức, từng niềm vui, từng vết thương, từng thành công, từng nhục nhã, từng cuộc gặp gỡ, từng lỗi lầm, từng hy sinh, từng điều còn dang dở, từng người mình yêu mà đã không thể ở bên tới cuối, từng giấc mơ đã nở và đã tàn, tất cả vào tay Chúa. Và rồi ngài nói thật chậm trong lòng: lạy Chúa, con không còn gì để giữ nữa. Con cũng không còn muốn giữ nữa. Những gì là của Chúa, xin để Chúa giữ. Những gì con đã làm được, xin Chúa thanh luyện. Những gì con làm chưa tới, xin Chúa xót thương. Những gì con còn mắc nợ tình yêu, xin Chúa bù lại bằng lòng nhân hậu của Ngài. Còn con, con chỉ xin một điều: xin đừng để con chết xa Nhà Tạm. Xa nghĩa là không còn lòng ở đó. Xa nghĩa là để lòng mình bận những chuyện không đáng. Xa nghĩa là ra đi mà tim không còn đủ đơn sơ để thưa “Abba”. Xin cho con chết gần Nhà Tạm, nghĩa là chết trong chính ánh nhìn đã nuôi con suốt cả đời.

Và rồi một ngày, khi giờ cuối thực sự đến, người linh mục không còn đủ sức nói nhiều nữa. Những người thân quen có thể đứng quanh. Những học trò cũ có thể về thăm. Một vài anh em linh mục có thể tới cầu nguyện. Có thể trên tường vẫn còn cây thánh giá. Có thể trên bàn có tràng chuỗi, sách kinh, một bức ảnh Đức Mẹ, một chén thuốc, vài món đồ rất đơn sơ của tuổi già. Nhưng nơi sâu nhất của căn phòng ấy, điều quyết định không phải là có ai đang đứng đó, mà là Chúa có đang ở đó không. Và nếu người linh mục đã sống cả đời mình quay về với Nhà Tạm, thì giờ ấy không còn là giờ của hoảng loạn nữa. Nó vẫn đau. Vẫn là chia ly. Vẫn là sự thật ghê gớm của phận người. Nhưng sâu hơn mọi nỗi sợ, có một dòng bình an đi qua linh hồn: cuối cùng, mình được về với Đấng mình đã nâng trên tay suốt đời. Được về với Đấng mình đã trao cho người khác suốt đời. Được về với Đấng đã âm thầm ngự trong Nhà Tạm và cũng âm thầm ngự trong mọi đêm tối của cuộc đời mình. Được về với Tình Yêu không thay đổi.

Đó là lời trối thiêng liêng cuối cùng của một linh mục trước Nhà Tạm: lạy Chúa, đời con rồi qua đi như bao kiếp người. Những công trình con dựng rồi cũng sẽ có người khác sửa lại. Những bài giảng con nói rồi cũng sẽ chìm vào quên lãng. Những người từng nghe con rồi cũng sẽ già, sẽ đau, sẽ đi vào cõi lặng như con. Những gì con đã nắm trong tay, nay con xin đặt xuống hết. Con không mang theo được gì, ngoài một trái tim đầy vết cắt nhưng đã cố yêu Chúa. Con không đem theo được gì, ngoài lòng thương xót của Chúa. Nếu con có điều gì đẹp, đó là Chúa đã làm nơi con. Nếu con có điều gì xấu, xin Chúa tha. Nếu con còn điều gì dở dang, xin Chúa hoàn tất. Nếu con còn nợ ai một lời xin lỗi hay một lời tha thứ, xin Chúa nói giùm con bằng tình yêu của Ngài. Nếu con đã yêu chưa đủ, xin Chúa thương bù lấp bằng trái tim Chúa. Và khi con đi qua cửa cuối cùng, xin đừng để con bám vào những gì đã qua, nhưng cho con chỉ thấy một mình Chúa. Vì con đã đi một vòng rất dài để cuối cùng hiểu ra điều đơn giản nhất: mọi sự rồi qua đi, chỉ còn Chúa là ở lại.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, đây là giờ con không còn gì để dâng ngoài chính mình. Không còn những chương trình. Không còn những sức mạnh. Không còn những lời hay. Không còn những thành quả để trình bày. Chỉ còn một đời đã qua, với biết bao thương tích, biết bao thiếu sót, biết bao lần nóng nảy, biết bao lần quảng đại, biết bao lần lẫn lộn, biết bao lần được Chúa kéo lại, biết bao đêm khô khan, biết bao lần được an ủi, biết bao lần tưởng mất tất cả, biết bao lần được Chúa giữ không cho rơi khỏi tay Ngài. Con xin dâng tất cả. Xin đừng nhìn vào công trạng con, vì con không có gì để khoe. Xin chỉ nhìn vào lòng thương xót của Chúa, vì đó là hy vọng duy nhất của con. Xin cho những năm cuối đời con trở thành một bài Magnificat âm thầm, không bằng lời ca lớn, nhưng bằng sự buông sâu. Xin cho con biết cảm ơn vì đã được làm linh mục, dù con đã không luôn xứng đáng với hồng ân ấy. Xin cho con biết cúi đầu trước mọi điều Chúa đã làm, cả những điều làm con vui lẫn những điều làm con đau. Xin cho con chết như một người nghèo, nghèo đủ để chỉ còn biết bám lấy Chúa. Xin cho con chết như một đứa con, không phải như một ông chủ của bất cứ công trình nào. Xin cho con chết với tên Chúa trên môi, với Nhà Tạm trong tim, với lòng thanh thản vì đã trao lại mọi sự. Và nếu ở giây phút cuối, con không còn nói được nữa, không còn nhớ được nữa, không còn cử động được nữa, thì xin cho nơi sâu nhất của linh hồn con vẫn còn một lời rất nhỏ, rất sáng, rất thật, lời của cả cuộc đời con: lạy Chúa, con yêu Chúa. Con chọn Chúa. Mọi sự rồi qua đi, chỉ còn Chúa là ở lại. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập360
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm356
  • Hôm nay45,048
  • Tháng hiện tại3,785,897
  • Tổng lượt truy cập113,656,966
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây