ĐƯỜNG HY VỌNG – Một con đường được viết bằng nước mắt, niềm tin và tình yêu

Thứ hai - 24/08/2026 09:06
Kỷ niệm năm mươi năm Đường Hy Vọng không thể chỉ là nhắc lại một biến cố lịch sử hay ca ngợi một tác phẩm nổi tiếng. Cách tưởng niệm đẹp nhất là để những lời ấy trở thành đời sống. Mỗi người có thể tự hỏi: tôi đang đặt hy vọng vào đâu? Tôi có đang sống giây phút hiện tại hay chỉ tiếc nuối quá khứ và lo sợ tương lai?
duong hy vong fx van thuan


Năm 2026 đánh dấu tròn nửa thế kỷ kể từ khi những câu đầu tiên của tác phẩm “Đường Hy Vọng” được hình thành trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Năm mươi năm đã trôi qua, thế giới đã đổi thay biết bao, những thế hệ độc giả đầu tiên của cuốn sách nay nhiều người đã già đi, có người đã về với Chúa, những biến động của lịch sử cũng đã lùi dần vào ký ức, nhưng những lời nhắn nhủ của Đấng Đáng kính Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận vẫn còn đó, vẫn sáng lên như những ngọn đèn nhỏ trong đêm tối, vẫn có sức đánh thức lòng người và vẫn đủ sức nâng một tâm hồn đang mệt mỏi đứng dậy tiếp tục hành trình. 

Đường Hy Vọng không chỉ là một cuốn sách tu đức nổi tiếng của Giáo hội Việt Nam, cũng không chỉ là một tác phẩm đã được dịch ra hơn mười hai ngôn ngữ và được nhiều Kitô hữu trên thế giới yêu mến. Đường Hy Vọng trước hết là chứng từ của một đời người đã đi xuyên qua đau khổ mà không đánh mất niềm vui, bị tước đoạt tự do mà không để tâm hồn mình bị giam cầm, bị đặt trong hoàn cảnh tưởng như không còn lối thoát mà vẫn một lòng xác tín rằng Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ rơi con người.

Người ta thường nói đến “nghìn lẻ một lời” của Đường Hy Vọng, nhưng thật ra đằng sau một ngàn lẻ một câu ngắn ngủi ấy là cả một chiều sâu lớn lao của đời sống nội tâm, của kinh nghiệm mục tử, của sự cầu nguyện, của thao thức truyền giáo và nhất là của một niềm hy vọng đã được thử luyện trong lửa. Những câu chữ ấy không được viết trong một thư viện yên tĩnh, cũng không ra đời giữa những ngày tháng thuận lợi, khi tác giả có đầy đủ thời gian, phương tiện và sự tự do để suy nghĩ, sắp xếp hay trau chuốt. Những câu ấy đã được viết trong hoàn cảnh quản chế, trên những mảnh giấy nhỏ, trên những tờ lịch cũ, bằng một tâm hồn đang bước vào cuộc thương khó của chính mình. Vì thế, Đường Hy Vọng không phải là lý thuyết về hy vọng. Đó là hy vọng đã thành máu thịt. Đó là đức tin đã đi qua đêm tối. Đó là tình yêu đã được thanh luyện khỏi mọi tìm kiếm bản thân. Đó là lời của một người không chỉ nói cho người khác phải sống thế nào, nhưng chính mình đã trả giá cho điều mình tin.

Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh năm 1928 và qua đời năm 2002. Cuộc đời của người gắn với nhiều biến cố lớn của Giáo hội và quê hương. Khi còn là Giám mục Giáo phận Nha Trang, người đã chọn khẩu hiệu giám mục là “Gaudium et Spes – Vui mừng và Hy vọng”. Đó không phải là một khẩu hiệu đẹp để trang trí huy hiệu giám mục, nhưng là một định hướng cho toàn bộ đời sống và sứ vụ của người. Người muốn sống tinh thần của Công đồng Vaticanô II, muốn đem niềm vui và hy vọng của Tin Mừng đến với con người thời đại, muốn Giáo hội không đứng bên ngoài những vui mừng, lo âu, đau khổ và khát vọng của nhân loại, nhưng hiện diện giữa lòng thế giới như một dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa. Có lẽ khi chọn khẩu hiệu ấy, người chưa thể hình dung hết con đường mà Thiên Chúa sẽ dẫn mình đi. Nhưng rồi chính cuộc đời người đã trở thành lời giải thích sống động nhất cho hai chữ “hy vọng”.

Hy vọng trong đời sống Kitô giáo không phải là một thái độ lạc quan dễ dãi. Hy vọng cũng không phải là tự trấn an rằng rồi mọi chuyện sẽ ổn theo ý mình. Hy vọng Kitô giáo không hứa rằng người tin Chúa sẽ tránh được đau khổ, bệnh tật, hiểu lầm, phản bội hay thất bại. Hy vọng không làm cho thập giá biến mất. Hy vọng cũng không biến đêm tối thành ban ngày ngay lập tức. Nhưng hy vọng giúp con người nhận ra rằng ngay trong đêm tối, Thiên Chúa vẫn hiện diện; ngay trên thập giá, tình yêu vẫn đang chiến thắng; ngay khi mọi cánh cửa của trần gian khép lại, cánh cửa dẫn vào lòng Thiên Chúa vẫn rộng mở. Người có hy vọng không phải là người chưa từng khóc, nhưng là người khóc mà vẫn không tuyệt vọng. Người có hy vọng không phải là người chưa từng ngã quỵ, nhưng là người biết nắm lấy tay Chúa để đứng lên. Người có hy vọng không phải là người luôn nhìn thấy con đường phía trước, nhưng là người dám bước tiếp dù chỉ thấy đủ ánh sáng cho một bước chân.

Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã sống niềm hy vọng ấy trong suốt hành trình đời mình. Khi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị, người đến nhiệm sở ngày 7 tháng 5 năm 1975. Chỉ hơn ba tháng sau, ngày 15 tháng 8 năm ấy, người bị đưa về quản chế tại giáo xứ Cây Vông, thuộc Giáo phận Nha Trang. Ngày 15 tháng 8 là lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ của niềm hy vọng, lễ của một người Mẹ đã đi trọn con đường đức tin và được Thiên Chúa đưa vào vinh quang. Có lẽ trong biến cố đau đớn ấy, người đã hiểu rằng con đường của mình cũng đang được đặt dưới bóng của Đức Maria, người nữ đã đứng dưới chân thập giá mà vẫn tin vào lời Thiên Chúa. Tại nơi quản chế, trên những tờ lịch cũ, những câu Đường Hy Vọng dần dần được viết xuống và hoàn tất vào năm 1976. Nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày ấy. Những tờ lịch cũ có thể đã úa màu, nhưng niềm hy vọng được viết trên đó thì vẫn còn tươi mới.

Điều đáng suy nghĩ là Đường Hy Vọng ra đời khi tác giả đang đứng trước một tương lai mịt mờ. Người không biết điều gì sẽ xảy ra ngày mai. Không biết mình sẽ bị giữ lại bao lâu. Không biết có được trở về với đoàn chiên hay không. Không biết sứ vụ giám mục sẽ tiếp tục bằng cách nào. Không biết những dự định mục vụ, những thao thức truyền giáo và bao công việc còn dang dở rồi sẽ đi về đâu. Theo lẽ thường, người có thể ngồi đó để tiếc nuối quá khứ, buồn trách hiện tại và lo sợ tương lai. Nhưng người đã không để cho những điều mình không thể kiểm soát lấy mất điều duy nhất mình vẫn còn có thể trao cho Chúa: giây phút hiện tại. Chính trong hoàn cảnh ấy, một xác tín lớn dần lên trong lòng người: tôi sẽ không chờ đợi. Tôi sẽ sống giây phút này. Tôi sẽ lấp đầy giây phút này bằng tình yêu. Tôi sẽ làm điều Thiên Chúa muốn nơi tôi lúc này, dù việc ấy nhỏ bé, âm thầm hay không ai biết đến.

Đó là điểm khởi đầu của Linh đạo Hy Vọng: không sống bằng nuối tiếc quá khứ, không sống bằng những ảo tưởng về tương lai, nhưng sống trọn vẹn giây phút hiện tại trong tình yêu Thiên Chúa. Có những người đánh mất cả cuộc đời chỉ vì luôn chờ một ngày thuận lợi hơn để bắt đầu sống. Họ chờ khi công việc ổn định hơn, khi gia đình bớt khó khăn hơn, khi sức khỏe tốt hơn, khi người khác hiểu mình hơn, khi hoàn cảnh thay đổi, khi những trở ngại biến mất. Nhưng đời sống không bao giờ hoàn toàn thuận lợi. Vừa vượt qua khó khăn này, ta lại gặp thử thách khác. Nếu cứ chờ mọi sự hoàn hảo mới yêu thương, mới tha thứ, mới cầu nguyện, mới làm điều tốt, có lẽ ta sẽ không bao giờ bắt đầu. Đường Hy Vọng nhắc chúng ta rằng chỉ có hiện tại là giây phút thật sự thuộc về mình. Quá khứ đã qua. Tương lai chưa đến. Giây phút này là nơi Thiên Chúa đang chờ ta, là nơi bổn phận đang gọi ta, là nơi người bên cạnh đang cần ta và là nơi ta có thể biến một việc rất bình thường thành một hành động yêu thương phi thường.

Linh đạo Hy Vọng không phải là một hệ thống tư tưởng phức tạp dành riêng cho các nhà thần học hay những người sống đời thánh hiến. Đó là con đường mở ra cho mọi Kitô hữu: linh mục, tu sĩ, người cha, người mẹ, người trẻ, người già, người lao động, người đau bệnh, người thành công hay thất bại. Ai cũng có thể sống hy vọng, vì ai cũng có một hiện tại để dâng cho Chúa, một bổn phận để chu toàn, một người bên cạnh để yêu thương và một thập giá để vác với Người. Sự thánh thiện không nhất thiết bắt đầu từ những việc lớn lao. Rất nhiều khi, sự thánh thiện bắt đầu từ việc ta làm thật tốt điều phải làm, giữ lời hứa, nhẫn nại với một người khó tính, không nói một lời gây tổn thương, chăm sóc người thân đang đau bệnh, trung thực trong công việc, kiên trì cầu nguyện dù tâm hồn khô khan, hay âm thầm tiếp tục điều tốt dù không được ai ghi nhận.

Nội dung cốt lõi của Linh đạo Hy Vọng rất phù hợp với đức tin Kitô giáo: Đức Kitô là nguồn hy vọng duy nhất và đích thực của nhân loại. Con người có thể đặt hy vọng vào tiền bạc, quyền lực, khoa học, danh tiếng, sức khỏe, tài năng hay những mối tương quan, nhưng tất cả những điều ấy đều có giới hạn. Tiền bạc có thể giúp ta giải quyết nhiều vấn đề nhưng không mua được bình an thật. Quyền lực có thể khiến người khác phục tùng nhưng không thể bắt họ chân thành yêu mến ta. Khoa học có thể kéo dài sự sống nhưng không thể ban ý nghĩa cuối cùng cho sự chết. Danh tiếng có thể khiến tên tuổi một người được nhiều người biết đến nhưng không bảo đảm người ấy được hạnh phúc. Sức khỏe có thể suy giảm, tài năng có thể mai một, những người thân yêu rồi cũng có lúc phải chia xa. Chỉ nơi Đức Kitô, con người mới tìm được một niềm hy vọng không bị cái chết phá hủy, bởi chính Người đã đi qua cái chết và đã phục sinh.

Đức Kitô là hy vọng vì Người cho ta biết Thiên Chúa không đứng xa nỗi khổ của con người. Thiên Chúa đã trở nên người phàm, đã bước vào lịch sử, đã mang lấy thân phận yếu đuối của chúng ta, đã biết đói, biết khát, biết mệt mỏi, biết bị hiểu lầm, bị phản bội, bị loại trừ và bị giết chết. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ nhìn thấy nỗi đau của nhân loại từ trên cao, nhưng đã đi vào tận đáy nỗi đau ấy. Người không giải thích đau khổ bằng những lời lý luận lạnh lùng, nhưng ôm lấy đau khổ bằng chính thân thể mình. Trên thập giá, Người mang lấy mọi tiếng khóc của con người. Trong sự phục sinh, Người mở ra một lối đi mà không đau khổ nào có thể khóa lại. Vì thế, người Kitô hữu hy vọng không phải vì cuộc đời luôn dễ dàng, nhưng vì họ biết rằng không có vực thẳm nào mà Đức Kitô chưa đi xuống, không có đêm tối nào mà ánh sáng phục sinh của Người không thể chiếu tới.

Điểm thứ nhất của Linh đạo Hy Vọng có thể được gọi là sự hiện diện. Muốn để Chúa trở thành nguồn hy vọng cho bản thân, ta phải hiện diện trong lòng Thiên Chúa và Hội Thánh. Muốn đem Chúa làm nguồn hy vọng cho người khác, ta phải hiện diện giữa lòng thời đại và dân tộc. Thiên Chúa đã hiện diện với con người. Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa không cứu con người từ xa. Người đến ở giữa nhân loại, chia sẻ kiếp sống con người, nói ngôn ngữ của con người và đi trên những con đường đầy bụi của trần gian. Vì thế, người Kitô hữu cũng không được trốn chạy khỏi thế giới. Ta không thể trở thành chứng nhân hy vọng nếu chỉ đứng bên ngoài quan sát những khổ đau của người khác. Ta phải ở đó, ở gần, lắng nghe, chia sẻ và cùng bước đi.

Hiện diện trong lòng Thiên Chúa trước hết là sống một tương quan thật với Người. Không phải chỉ biết một số điều về Chúa, nhưng biết Chúa. Không phải chỉ đọc kinh cho đủ, nhưng để lời kinh đưa tâm hồn mình đến gặp Người. Không phải chỉ tham dự phụng vụ như một thói quen, nhưng để Thánh Thể biến đổi cách ta sống, cách ta yêu và cách ta nhìn người khác. Hiện diện trong lòng Thiên Chúa là để Lời Chúa thấm vào suy nghĩ, soi sáng những chọn lựa, sửa lại những lối sống lệch lạc và nâng đỡ ta trong thử thách. Đó là yêu mến Thánh Tâm Chúa Giêsu, một Trái Tim đã bị đâm thâu nhưng vẫn không ngừng yêu thương. Đó là đến với Thánh Thể, nơi Chúa chọn ở lại trong hình bánh nhỏ bé, âm thầm, tự hiến và gần gũi. Đó là dành thời gian cầu nguyện riêng, không chỉ để xin ơn, nhưng để ở với Chúa, lắng nghe Người và để Người nhìn ta bằng ánh mắt yêu thương.

Hiện diện trong lòng Hội Thánh là ý thức rằng mình không sống đức tin một mình. Kitô hữu không phải là một hòn đảo. Ta thuộc về một thân thể, trong đó Đức Kitô là Đầu và mỗi người là một chi thể. Khi một chi thể đau, cả thân thể cùng đau. Khi một chi thể trưởng thành trong đức ái, cả thân thể được lớn lên. Ta hiện diện trong Hội Thánh không chỉ bằng tên gọi Công giáo, không chỉ bằng việc lãnh nhận các bí tích, nhưng bằng một đời sống đức tin tích cực, biết cộng tác, biết phục vụ, biết xây dựng sự hiệp nhất và biết mang lấy những yếu đuối của cộng đoàn. Có người giữ đạo rất lâu nhưng lại đứng ngoài đời sống của Hội Thánh. Họ đi lễ nhưng không cảm thấy trách nhiệm với cộng đoàn. Họ cầu nguyện nhưng không quan tâm đến người nghèo. Họ giữ luật nhưng thiếu lòng thương xót. Đường Hy Vọng mời gọi ta đi xa hơn việc “giữ đạo” để thật sự “sống đạo”, hành đạo, mang Tin Mừng vào đời bằng lời nói, việc làm và cách ứng xử hằng ngày.

Hiện diện giữa lòng thời đại là không sợ thế giới hôm nay. Thế giới có nhiều bóng tối, nhưng người Kitô hữu không được chỉ than phiền về bóng tối. Chúa gọi ta thắp lên một ngọn đèn. Xã hội có nhiều đổ vỡ, nhưng ta không được chỉ đứng ngoài lên án. Chúa gọi ta trở nên muối, men và ánh sáng. Nhiều người sống duy vật, hưởng thụ, chỉ tìm lợi ích trước mắt, nhưng người Kitô hữu được mời gọi cho thấy rằng con người không chỉ sống bằng cơm bánh, rằng phẩm giá quan trọng hơn tiền bạc, rằng sự trung tín quý hơn những thú vui chóng qua, rằng lòng thương xót mạnh hơn hận thù và rằng cho đi không làm con người nghèo đi. Hiện diện giữa thời đại không có nghĩa là chạy theo mọi trào lưu, nhưng là sống giữa thế giới mà vẫn thuộc về Chúa, hiểu con người hôm nay mà không đánh mất căn tính, biết đối thoại nhưng không thỏa hiệp với điều sai trái.

Hiện diện giữa lòng dân tộc là yêu quê hương bằng một tình yêu trưởng thành và có trách nhiệm. Người Kitô hữu không thể thờ ơ trước nỗi đau của đồng bào mình. Không thể cầu nguyện trong nhà thờ mà không nghe tiếng khóc của người nghèo ngoài phố. Không thể nói về công lý mà lại gian dối trong công việc. Không thể nói yêu nước mà lại gây chia rẽ, gieo hận thù, sống ích kỷ hoặc làm tổn hại đến lợi ích chung. Yêu dân tộc là làm việc trung thực, tôn trọng con người, bảo vệ sự sống, xây dựng hòa bình, bênh vực kẻ yếu, gìn giữ gia đình, chăm lo giáo dục và góp phần làm xã hội nhân bản hơn. Người Kitô hữu hiện diện giữa lòng dân tộc không phải để tìm đặc quyền, nhưng để phục vụ; không phải để làm cho người khác sợ mình, nhưng để người khác qua mình mà nhận ra sự dịu dàng của Tin Mừng.

Điểm thứ hai của Linh đạo Hy Vọng là chu toàn phận sự. Đây là một trong những nét rất thực tế và gần gũi của Đường Hy Vọng. Con người thường thích mơ đến những điều lớn lao. Ta dễ nghĩ rằng muốn nên thánh thì phải làm những việc phi thường, phải có khả năng đặc biệt, phải đảm nhận một sứ vụ nổi bật hoặc phải được nhiều người biết đến. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc rằng phương tiện nên thánh đang nằm ngay trong tay ta: đó là phận sự mỗi ngày. Mỗi người đều có một phận sự riêng tùy theo bậc sống, ơn gọi và hoàn cảnh. Người cha có phận sự của người cha. Người mẹ có phận sự của người mẹ. Người con có phận sự của người con. Linh mục có phận sự của linh mục. Tu sĩ có phận sự của tu sĩ. Người công nhân, giáo viên, bác sĩ, nhân viên văn phòng hay người nội trợ đều có con đường nên thánh ngay trong công việc của mình.

Chu toàn phận sự không phải chỉ là làm cho xong việc. Hai người có thể cùng làm một công việc, nhưng giá trị thiêng liêng rất khác nhau. Một người làm vì sợ bị trách, một người làm vì trách nhiệm. Một người làm cẩu thả, một người làm với tất cả khả năng. Một người làm để được khen, một người làm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Thánh hóa phận sự là tìm ý Chúa trong công việc mình đang làm, tự hỏi rằng: Chúa muốn tôi làm gì lúc này? Nếu Chúa Giêsu ở trong hoàn cảnh của tôi, Người sẽ làm thế nào? Tôi có thể đặt thêm một chút yêu thương, kiên nhẫn và chân thành vào công việc này không? Khi làm như thế, việc bình thường trở thành của lễ. Một bữa cơm được nấu bằng tình yêu có thể trở thành lời cầu nguyện. Một giờ lao động trung thực có thể trở thành hành vi thờ phượng. Một lần nhịn lời nóng giận có thể là một hy sinh đẹp lòng Chúa. Một cử chỉ chăm sóc người đau yếu có thể trở thành cuộc gặp gỡ với chính Đức Kitô.

Chu toàn phận sự là sống ý Chúa trong giây phút hiện tại. Có khi ta rất muốn làm việc của người khác mà quên việc của mình. Ta thích góp ý cho người khác phải sống thế nào nhưng lại bỏ bê chính trách nhiệm của mình. Ta muốn thay đổi thế giới nhưng chưa muốn thay đổi cách nói chuyện trong gia đình. Ta muốn làm tông đồ ở những nơi xa nhưng thiếu kiên nhẫn với người sống ngay bên cạnh. Ta mong cộng đoàn thánh thiện hơn nhưng không muốn góp phần bằng sự hy sinh âm thầm của mình. Đường Hy Vọng đưa ta trở về với điều rất cụ thể: hãy làm tốt việc Chúa giao cho con hôm nay. Đừng chạy trốn phận sự để tìm một con đường nên thánh ở đâu xa. Chính trong phận sự, Chúa đang chờ con.

Thánh hóa bản thân qua phận sự là để mỗi việc làm góp phần biến đổi tâm hồn mình. Công việc không chỉ tạo ra sản phẩm, nhưng còn tạo nên con người. Khi làm việc với trách nhiệm, ta tập được sự trung tín. Khi kiên nhẫn với người khó chịu, ta học lòng nhẫn nại. Khi dám nhận lỗi, ta học khiêm nhường. Khi làm điều đúng dù không ai nhìn thấy, ta luyện lương tâm ngay thẳng. Khi tiếp tục phục vụ dù không được biết ơn, ta học yêu thương vô vị lợi. Khi đón nhận giới hạn của mình, ta học phó thác. Vì thế, phận sự mỗi ngày là trường học của sự thánh thiện. Chúa không chỉ dùng những thành công để thánh hóa ta, Người còn dùng cả những thất bại, những điều trái ý, những công việc lặp đi lặp lại, những con người làm ta mệt mỏi và những ngày tưởng như không có gì đặc biệt.

Thánh hóa nhân loại bằng phận sự nghĩa là công việc của ta không bao giờ chỉ liên quan đến riêng ta. Mỗi việc được thực hiện cách trung thực và yêu thương đều góp phần làm thế giới tốt đẹp hơn. Một giáo viên tận tâm có thể làm thay đổi tương lai của nhiều đứa trẻ. Một bác sĩ có lương tâm có thể giữ lại mạng sống và niềm tin cho bệnh nhân. Một người kinh doanh trung thực có thể tạo công ăn việc làm và bảo vệ phẩm giá người lao động. Một người mẹ âm thầm giáo dục con cái có thể gieo nền tảng cho một thế hệ. Một người cha sống trách nhiệm có thể tạo nên cảm giác an toàn cho cả gia đình. Một người trẻ biết nói không với gian dối có thể trở thành dấu chỉ hy vọng giữa môi trường của mình. Không phải ai cũng được mời gọi làm những việc vang dội, nhưng ai cũng được mời gọi làm cho nơi mình đang sống trở nên nhân bản hơn, công bằng hơn và chan chứa tình thương hơn.

Điểm thứ ba của Linh đạo Hy Vọng được tóm gọn trong chữ SPES, nghĩa là “hy vọng” trong tiếng Latinh. Bốn mẫu tự này gợi lên bốn chiều kích quan trọng: phụng sự, phát triển, Phúc Âm hóa và thánh hóa. 

Trước hết là Servire – phụng sự và phục vụ

Đức Kitô đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người. Vì thế, người môn đệ không thể đi con đường khác Thầy mình. Phục vụ theo tinh thần Tin Mừng là không đòi đặc quyền, không tìm địa vị, không lấy việc đạo đức làm phương tiện nâng mình lên, không chỉ làm điều tốt khi có người nhìn thấy hoặc khi chắc chắn được đền đáp. Phục vụ là cúi xuống. Là chấp nhận làm những việc nhỏ. Là nhìn thấy nhu cầu của người khác trước khi họ phải lên tiếng. Là dùng quyền hạn để nâng người khác lên chứ không phải để thống trị họ.

Một trong những cám dỗ lớn nhất của con người là thích được phục vụ hơn là phục vụ. Ta muốn được hiểu nhưng ít chịu lắng nghe. Ta muốn được tôn trọng nhưng lại dễ coi thường người khác. Ta muốn người khác hy sinh cho mình nhưng lại tính toán khi phải cho đi. Ngay trong đời sống tôn giáo, tinh thần phục vụ cũng có thể bị biến dạng thành việc tìm kiếm uy tín, ảnh hưởng hay lời khen. Linh đạo Hy Vọng đưa người Kitô hữu trở về với Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Người là Chúa và là Thầy nhưng đã quỳ xuống. Người không chỉ nói về khiêm nhường, Người mặc lấy thân phận tôi tớ. Vì thế, mỗi lần ta phục vụ cách vô vị lợi, ta đang làm cho Đức Kitô hiện diện và đang trao niềm hy vọng cho người khác.

Chiều kích thứ hai là Progressione – phát triển

Hy vọng Kitô giáo không khiến con người thụ động hay chỉ hướng mắt về đời sau mà bỏ quên trần thế. Chính vì tin vào Nước Trời, người Kitô hữu càng có trách nhiệm xây dựng trần gian. Chính vì tin con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, ta càng phải bảo vệ phẩm giá của từng người. Phát triển ở đây không chỉ là tăng trưởng kinh tế hay tiến bộ kỹ thuật, nhưng là phát triển con người toàn diện: thân xác, tinh thần, trí tuệ, đạo đức và đời sống tâm linh. Một xã hội có thể rất giàu nhưng vẫn nghèo tình người. Một đất nước có thể rất hiện đại nhưng con người lại cô đơn, gia đình đổ vỡ, sự sống bị coi thường và người yếu thế bị bỏ lại. Phát triển đích thực phải làm cho con người sống xứng đáng hơn với phẩm giá của mình, giúp họ có cơ hội học tập, làm việc, được chăm sóc, được tôn trọng và được sống trong tình liên đới.

Người sống Linh đạo Hy Vọng không quay lưng trước những vấn đề xã hội. Họ không nói rằng chỉ cần cầu nguyện rồi mọi chuyện sẽ tự ổn. Họ cầu nguyện để có sức dấn thân. Họ gặp Chúa để có thể nhận ra Chúa nơi người đau khổ. Họ tham dự Thánh lễ để rồi trở thành tấm bánh được bẻ ra cho anh em. Họ góp phần xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống bằng những lựa chọn cụ thể: bảo vệ trẻ em, chăm sóc người già, nâng đỡ người nghèo, tôn trọng phụ nữ, bảo vệ thai nhi, đồng hành với người khuyết tật, chữa lành những gia đình đổ vỡ và tạo cơ hội cho người bị gạt ra bên lề. Mỗi việc làm ấy là một viên đá nhỏ xây nên con đường hy vọng.

Chiều kích thứ ba là Evangelizatione – Phúc Âm hóa

Thế giới hôm nay không thiếu thông tin nhưng lại thiếu định hướng. Con người biết rất nhiều nhưng chưa chắc biết mình sống để làm gì. Khoa học phát triển nhưng nhiều tâm hồn vẫn rơi vào trống rỗng. Mạng xã hội kết nối hàng triệu người nhưng nhiều người lại cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Người ta có thể đi rất nhanh nhưng không biết mình đang đi về đâu. Trong hoàn cảnh ấy, Tin Mừng không phải là một mớ giáo lý lỗi thời, nhưng là ánh sáng giúp con người hiểu phẩm giá, ý nghĩa và cùng đích đời mình. Phúc Âm hóa không chỉ là giảng dạy bằng lời, nhưng trước hết là sống sao để người khác nhìn thấy Tin Mừng nơi ta.

Một người Kitô hữu cau có, ích kỷ, hay xét đoán, thiếu trung thực và không biết yêu thương sẽ làm cho Tin Mừng trở nên khó tin. Ngược lại, một người sống bình an giữa thử thách, biết tha thứ khi bị xúc phạm, sống đơn sơ giữa một xã hội chạy theo phô trương, dám trung thực giữa môi trường gian dối và vẫn giữ lòng nhân hậu khi bị đối xử bất công sẽ khiến người khác phải tự hỏi: điều gì đang nâng đỡ con người này? Niềm hy vọng nào giúp họ sống như thế? Đó chính là truyền giáo bằng đời sống. Người ta có thể tranh luận với những lời ta nói, nhưng khó phủ nhận một đời sống yêu thương chân thật.

Phúc Âm hóa cũng có nghĩa là mang tinh thần Tin Mừng vào mọi lãnh vực: gia đình, giáo dục, kinh tế, văn hóa, truyền thông, chính trị, khoa học và nghệ thuật. Không phải bằng cách áp đặt tôn giáo, nhưng bằng việc đặt con người, chân lý, công ích và phẩm giá ở trung tâm. Một người làm truyền thông sống Tin Mừng bằng việc tôn trọng sự thật, không bóp méo thông tin và không kiếm lợi từ nỗi đau người khác. Một người làm kinh tế sống Tin Mừng bằng việc không bóc lột lao động. Một người làm giáo dục sống Tin Mừng bằng việc giúp học sinh trưởng thành toàn diện chứ không chỉ chạy theo thành tích. Một người làm nghệ thuật sống Tin Mừng bằng việc tôn vinh vẻ đẹp chân thật và nâng tâm hồn con người lên. Như thế, Tin Mừng không bị giới hạn trong nhà thờ, nhưng trở thành men trong lòng thế giới.

Chiều kích thứ tư là Sanctificatione – thánh hóa

Cùng đích của đời sống Kitô hữu là nên thánh, nhưng nên thánh không có nghĩa là trở thành một con người xa lạ với cuộc sống. Nên thánh là trở nên giống Đức Kitô hơn trong cách yêu, cách nghĩ, cách nói và cách hành động. Người nên thánh không nhất thiết là người làm được nhiều phép lạ, nhưng là người để tình yêu Chúa biến đổi từng phản ứng rất nhỏ của mình. Họ biết im lặng khi một lời nói có thể gây tổn thương. Họ biết lên tiếng khi sự thật và công lý bị chà đạp. Họ biết tha thứ nhưng không đồng lõa với sự dữ. Họ biết khiêm nhường nhưng không hèn nhát. Họ sống giữa đời nhưng không để tinh thần thế gian chiếm hữu trái tim.

Thánh hóa bản thân, tha nhân và môi trường bằng chính phận sự là một con đường vừa đơn sơ vừa đòi hỏi. Đơn sơ vì ta không phải đi tìm một nơi khác để nên thánh. Đòi hỏi vì ta không thể viện cớ hoàn cảnh để sống qua loa. Ta có thể cầu nguyện rất sốt sắng nhưng nếu làm việc cẩu thả thì đời sống thiêng liêng vẫn còn thiếu. Ta có thể tham dự nhiều sinh hoạt đạo đức nhưng nếu thiếu trách nhiệm với gia đình thì chưa thật sự sống ý Chúa. Ta có thể nói những lời rất hay về tình yêu nhưng nếu không chịu tha thứ thì lời nói ấy chưa trở thành sự sống. Đường Hy Vọng không cho phép ta tách đức tin khỏi đời thường. Đức tin phải đi vào giờ làm việc, bữa cơm gia đình, cách sử dụng tiền bạc, cách đối xử với người dưới quyền, cách nói về người vắng mặt và cách ta phản ứng khi không được như ý.

Điều làm nên sức thuyết phục đặc biệt của Linh đạo Hy Vọng là chính Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã sống những điều người viết. Trong mười ba năm bị giam giữ, trong đó có chín năm biệt giam, người đã phải đối diện với cô đơn, thiếu thốn, bệnh tật và sự bất định kéo dài. Người có thể đã chìm trong cay đắng. Người có thể nuôi hận thù. Người có thể xem những người canh giữ mình là kẻ thù. Nhưng người đã chọn một con đường khác. Người tìm cách yêu thương họ. Người học ngôn ngữ của họ, quan tâm đến gia đình họ, chia sẻ với họ những điều nhỏ bé và dần dần biến khoảng cách thành sự gần gũi. Người không chờ đến ngày được tự do mới bắt đầu làm mục tử. Ngay trong tù, người tiếp tục sống ơn gọi mục tử bằng sự hiện diện, cầu nguyện, yêu thương và tha thứ.

Đây là điều vô cùng sâu sắc: nhà tù có thể giữ thân xác người, nhưng không thể giam được tình yêu nếu người không tự khóa lòng mình lại. Người ta có thể tước khỏi ta chức vụ, tài sản, danh dự, sự tự do bên ngoài, nhưng không ai có thể buộc ta phải hận thù. Không ai có thể bắt ta tuyệt vọng nếu ta vẫn bám vào Chúa. Không ai có thể lấy mất khả năng yêu thương nếu ta không tự nguyện trao quyền ấy cho họ. Đức Hồng y đã cho thấy tự do sâu xa nhất không nằm ở việc ta có thể đi đâu, làm gì hay sở hữu điều gì, nhưng ở việc ta vẫn có thể chọn yêu thương trong hoàn cảnh tưởng như không còn gì để chọn.

Trong những ngày bị giam cầm, người dâng lễ bằng vài giọt rượu và những mẩu bánh nhỏ. Lòng bàn tay trở thành bàn thờ. Căn phòng giam trở thành nhà nguyện. Bóng tối trở thành nơi gặp gỡ. Cô đơn trở thành lời cầu nguyện. Chính nơi tưởng như Thiên Chúa vắng mặt nhất, người lại cảm nghiệm sự hiện diện gần gũi của Người. Đây là một bài học lớn cho mỗi chúng ta. Đừng nghĩ rằng chỉ khi mọi sự thuận lợi ta mới có thể gặp Chúa. Có khi chính trong lúc bị lấy mất những điểm tựa quen thuộc, ta mới nhận ra Chúa là điểm tựa duy nhất. Có khi trong bệnh viện, trong căn phòng vắng, trong thất bại, trong cảnh bị hiểu lầm hay trong những đêm dài không ai biết đến nỗi đau của ta, Chúa lại trở nên gần hơn bao giờ hết.

Linh đạo Hy Vọng không phủ nhận đau khổ, cũng không tô hồng đau khổ. Đau vẫn là đau. Cô đơn vẫn là cô đơn. Mất mát vẫn khiến trái tim quặn thắt. Nhưng hy vọng giúp ta không để đau khổ trở thành vô nghĩa. Một nỗi đau được kết hợp với thập giá Đức Kitô có thể trở thành lời cầu nguyện. Một hy sinh được thực hiện vì tình yêu có thể sinh hoa trái cho người khác. Một thất bại được đón nhận trong khiêm nhường có thể phá vỡ cái tôi kiêu ngạo. Một giai đoạn tối tăm có thể giúp ta hiểu và cảm thông hơn với những người đang đau khổ. Không phải mọi câu hỏi đều được giải đáp ngay trong cuộc đời này, nhưng người hy vọng tin rằng Thiên Chúa có thể viết đường thẳng bằng những nét cong, có thể làm cho hạt lúa mục nát sinh nhiều bông hạt và có thể biến ngôi mộ thành điểm khởi đầu của sự sống mới.

Một trong những nguy hiểm lớn của thời đại hôm nay là con người dễ mất hy vọng. Người trẻ mất hy vọng khi thấy tương lai mù mịt. Người lớn mất hy vọng vì gánh nặng cơm áo, gia đình và bệnh tật. Người già mất hy vọng vì cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Có những người mất hy vọng vì hôn nhân đổ vỡ, vì con cái hư hỏng, vì bị phản bội, vì thất bại trong công việc, vì mắc lỗi lầm không thể sửa lại hoặc vì một căn bệnh kéo dài. Có người vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn cười nói, nhưng trong lòng đã nguội lạnh. Họ không còn chờ đợi điều gì tốt đẹp. Họ chỉ sống qua ngày. Chính trong hoàn cảnh ấy, Đường Hy Vọng vang lên như một lời mời gọi: đừng để đau khổ nói lời cuối cùng. Đừng để một thất bại định nghĩa toàn bộ cuộc đời. Đừng để một người đã làm tổn thương ta lấy luôn khả năng yêu thương của ta. Đừng để quá khứ khóa cửa tương lai.

Hy vọng không phải là có câu trả lời cho tất cả mọi sự. Nhiều lúc hy vọng chỉ là vẫn cầu nguyện dù chưa thấy Chúa đáp lời. Vẫn tử tế dù từng bị lợi dụng. Vẫn trung thành dù không được ghi nhận. Vẫn làm điều đúng dù phải chịu thiệt. Vẫn bước tiếp dù lòng rất mệt. Vẫn tin rằng mình có giá trị dù người khác xem thường. Vẫn tin vào tình thương Chúa dù chính mình không hiểu nổi con đường Người đang dẫn đi. Hy vọng nhiều khi rất nhỏ bé, giống như một ngọn nến trước gió, nhưng chỉ cần ngọn nến ấy chưa tắt, bóng tối chưa thể chiến thắng hoàn toàn.

Đường Hy Vọng cũng dạy ta đừng lẫn lộn hy vọng với ước muốn cá nhân. Ta có thể cầu xin một điều và nghĩ rằng chỉ khi điều ấy xảy ra thì Chúa mới yêu ta. Nhưng Thiên Chúa yêu ta ngay cả khi Người không ban điều ta xin theo cách ta mong muốn. Có những cánh cửa khép lại không phải vì Chúa bỏ rơi, nhưng vì Người đang bảo vệ ta khỏi một con đường không thích hợp. Có những lời cầu nguyện được đáp lại bằng một sức mạnh để chịu đựng thay vì bằng việc cất đi thử thách. Có những bệnh tật không được chữa lành thể xác nhưng lại mở ra một cuộc chữa lành sâu xa trong tâm hồn. Có những giấc mơ không thành nhưng nhờ đó ta tìm thấy một ơn gọi lớn hơn. Hy vọng thật không đặt nền trên việc mọi sự phải diễn ra theo ý ta, nhưng trên niềm tin rằng dù điều gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể dẫn ta đến sự sống.

Kỷ niệm năm mươi năm Đường Hy Vọng không thể chỉ là nhắc lại một biến cố lịch sử hay ca ngợi một tác phẩm nổi tiếng. Cách tưởng niệm đẹp nhất là để những lời ấy trở thành đời sống. Mỗi người có thể tự hỏi: tôi đang đặt hy vọng vào đâu? Tôi có đang sống giây phút hiện tại hay chỉ tiếc nuối quá khứ và lo sợ tương lai? Tôi có chu toàn phận sự hằng ngày với lòng yêu mến hay chỉ làm qua loa cho xong? Tôi có hiện diện thật sự với gia đình, cộng đoàn và những người đang cần tôi không? Tôi có đem niềm hy vọng đến cho người khác hay lại gieo thêm bi quan, chia rẽ và thất vọng? Người khác gặp tôi có cảm thấy được nâng đỡ, được lắng nghe, được tôn trọng và được khích lệ không?

Gia đình hôm nay rất cần Linh đạo Hy Vọng. Có những gia đình không thiếu tiền bạc nhưng thiếu sự hiện diện. Người ta ở chung một nhà nhưng mỗi người chìm trong một màn hình riêng. Vợ chồng nói chuyện với nhau chủ yếu về công việc, hóa đơn, con cái, nhưng hiếm khi chia sẻ những vui buồn sâu kín. Cha mẹ lo cho con nhiều thứ nhưng thiếu thời gian lắng nghe. Con cái được học hành đầy đủ nhưng không cảm thấy được hiểu. Đường Hy Vọng mời mỗi người trở về với hiện tại, đặt điện thoại xuống, nhìn vào mắt nhau, lắng nghe không phán xét, nói một lời cảm ơn, xin lỗi khi mình sai và đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn. Một gia đình không tự nhiên mà ấm. Mỗi người phải thắp lửa bằng những hành động nhỏ mỗi ngày.

Các cộng đoàn Kitô hữu cũng rất cần Linh đạo Hy Vọng. Một cộng đoàn chỉ thật sự loan báo Tin Mừng khi người yếu đuối được đón nhận, người nghèo được quan tâm, người lầm lỗi được mở lối trở về và người đau khổ tìm thấy nơi đó một mái nhà. Nếu cộng đoàn chỉ chú trọng hình thức, thành tích hay những hoạt động bề nổi mà thiếu tình huynh đệ, niềm hy vọng sẽ dần cạn. Có những người rời xa Giáo hội không phải vì họ không tin Chúa, nhưng vì họ đã bị tổn thương bởi cách cư xử của những người đại diện cho cộng đoàn. Vì thế, sống Linh đạo Hy Vọng cũng là biết chữa lành những vết thương, xin lỗi khi cộng đoàn sai, tránh bè phái, không nói xấu, không tranh giành ảnh hưởng và không biến việc phục vụ Chúa thành nơi tìm kiếm quyền lực.

Các mục tử càng cần sống Linh đạo Hy Vọng bằng sự gần gũi. Một mục tử có thể giảng rất hay, tổ chức rất giỏi, xây dựng nhiều công trình, nhưng nếu không biết lắng nghe, không có thời gian cho người đau khổ và không hiện diện với đoàn chiên thì lời giảng sẽ khó chạm tới lòng người. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã làm mục tử ngay khi không còn tòa giám mục, không còn nhà thờ, không còn những phương tiện mục vụ quen thuộc. Người làm mục tử bằng chính sự hiện diện và tình yêu. Điều ấy nhắc rằng căn tính mục tử không nằm trước hết ở chức vụ, nhưng ở trái tim biết hiến mình.

Người trẻ hôm nay cũng có thể tìm thấy nơi Đường Hy Vọng một định hướng quý giá. Giữa một thế giới đề cao thành công nhanh, hình ảnh đẹp và sự công nhận của đám đông, người trẻ rất dễ cảm thấy mình thất bại nếu chưa đạt được điều người khác có. Mạng xã hội khiến ta luôn so sánh cuộc đời thật của mình với những khoảnh khắc đẹp nhất của người khác. Ta thấy người khác thành công, hạnh phúc, giàu có, được yêu mến, còn mình thì chậm chạp, mờ nhạt và bất toàn. Đường Hy Vọng giúp người trẻ quay về với câu hỏi quan trọng hơn: hôm nay Chúa muốn tôi làm gì? Tôi có thể trưởng thành thêm một chút nào? Tôi có thể sử dụng tài năng để phục vụ ai? Tôi có trung thành với con đường của mình hay đang sống theo kỳ vọng của người khác? Chúa không đòi ta phải trở thành một người khác. Người muốn ta trở thành phiên bản tốt đẹp nhất của chính mình trong tình yêu của Người.

Những người đang mang bệnh tật và tuổi già cũng đặc biệt gần với Linh đạo Hy Vọng. Khi không còn làm được nhiều việc như trước, con người dễ cảm thấy mình vô ích. Nhưng giá trị của một người không nằm ở số công việc họ làm được. Một người đau bệnh vẫn có thể yêu thương, cầu nguyện, dâng đau khổ, mỉm cười, tha thứ và trở thành nguồn bình an cho người khác. Có những người nằm trên giường bệnh nhưng lại nâng đỡ cả gia đình bằng sự nhẫn nại. Có những người già không còn đi đâu được nhưng lời cầu nguyện của họ âm thầm giữ gìn con cháu. Trong nhiệm thể Đức Kitô, không có sự hy sinh nào vô ích. Không một giọt nước mắt nào bị quên lãng. Không một lời cầu nguyện nào tan biến vào hư không.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI từng nhắc đến Đức cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận như một chứng nhân của hy vọng không tàn lụi trong những đêm dài cô đơn. Điều làm nên sức mạnh của người trong mười ba năm tù đày chính là việc lắng nghe Thiên Chúa và có thể nói chuyện với Người. Cầu nguyện đã giữ cho ngọn lửa hy vọng không tắt. Đây là một bài học không thể thiếu: con người không thể sống hy vọng lâu dài nếu không cầu nguyện. Ta có thể tự động viên mình trong một thời gian, nhưng khi thử thách kéo dài, sức riêng sẽ cạn. Chỉ khi cắm rễ trong Thiên Chúa, ta mới có thể tiếp tục đứng vững. Cầu nguyện không phải là chạy trốn thực tế, nhưng là bước vào thực tế cùng với Chúa. Cầu nguyện không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng thay đổi cách ta ở trong hoàn cảnh. Cầu nguyện không làm cho thập giá nhẹ đi ngay lập tức, nhưng giúp ta nhận ra có Đức Kitô đang vác cùng.

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã nhắc lại lựa chọn nổi tiếng của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận: không để những ngày sống trở thành thời gian chờ đợi tự do, nhưng sống giây phút hiện tại và lấp đầy nó bằng tình yêu; nắm lấy những cơ hội mỗi ngày để chu toàn những việc bình thường một cách phi thường. Đây có lẽ là bản tóm tắt đẹp nhất của Linh đạo Hy Vọng. Ta không cần chờ đến khi có hoàn cảnh lý tưởng để sống yêu thương. Ta chỉ cần bắt đầu từ giây phút này. Không cần làm tất cả, chỉ cần làm điều đang được trao. Không cần giải quyết cả thế giới, chỉ cần giúp người đang đứng trước mặt. Không cần nói những điều vĩ đại, chỉ cần trung thành với một việc nhỏ. Sự phi thường của đời Kitô hữu không nhất thiết nằm trong quy mô của công việc, nhưng trong mức độ tình yêu ta đặt vào đó.

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi Đường Hy Vọng được viết trên những tờ lịch cũ. Thời đại hôm nay khác xa năm 1976, nhưng lòng người vẫn mang những câu hỏi cũ: tôi sống để làm gì? Đau khổ có ý nghĩa gì? Có điều gì mạnh hơn sự chết? Khi mọi điểm tựa sụp đổ, tôi còn có thể bám vào đâu? Đường Hy Vọng không đưa ra những câu trả lời dễ dãi, nhưng chỉ cho ta một con người: Đức Kitô. Người là con đường, là sự thật, là sự sống và là niềm hy vọng không làm thất vọng. Ai bước theo Người vẫn có thể khóc, nhưng không khóc như người không còn hy vọng. Vẫn có thể bị tổn thương, nhưng không để vết thương biến thành hận thù. Vẫn có thể đối diện với cái chết, nhưng tin rằng cái chết không phải là dấu chấm hết.

Có lẽ điều đẹp nhất nơi Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận không phải là người chưa từng yếu đuối, nhưng là trong yếu đuối, người vẫn bám chặt lấy Chúa. Không phải người không cảm thấy cô đơn, nhưng trong cô đơn, người biến căn phòng giam thành nơi gặp gỡ. Không phải người không có lý do để oán giận, nhưng người đã chọn tha thứ. Không phải người nhìn thấy trước toàn bộ con đường, nhưng người đã trung thành với từng bước nhỏ. Chính vì thế, cuộc đời người trở thành một chứng từ: hy vọng không phải là một cảm xúc mong manh, nhưng là một quyết định đặt đời mình trong tay Thiên Chúa.

Kỷ niệm năm mươi năm Đường Hy Vọng là dịp để Giáo hội Việt Nam cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban cho mình một người con ưu tú, một chủ chăn đã trở thành chứng nhân cho Giáo hội hoàn vũ. Nhưng lòng biết ơn ấy sẽ không trọn vẹn nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc tôn kính người mà không bước theo con đường người đã chỉ. Đường Hy Vọng cần được mở ra trong mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn, mỗi nơi làm việc và nhất là trong từng trái tim. Cuốn sách ấy không nên chỉ nằm trên kệ, nhưng phải được viết tiếp bằng đời sống của chúng ta. Mỗi lần một người chọn tha thứ thay vì trả thù, Đường Hy Vọng được viết tiếp. Mỗi lần một người làm việc bổn phận với lòng yêu mến, Đường Hy Vọng được viết tiếp. Mỗi lần một gia đình cùng nhau cầu nguyện, Đường Hy Vọng được viết tiếp. Mỗi lần một Kitô hữu đứng về phía người nghèo, người yếu thế và người bị bỏ rơi, Đường Hy Vọng được viết tiếp. Mỗi lần ai đó giữa tuyệt vọng vẫn thì thầm “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài”, Đường Hy Vọng lại có thêm một trang mới.

Thế giới không thiếu những người nói về hy vọng. Điều thế giới cần là những người sống hy vọng. Không phải những người luôn tươi cười vì chưa từng chịu đau khổ, nhưng là những người đã đi qua đêm tối mà lòng vẫn không cay đắng. Không phải những người nói những lời lớn lao, nhưng là những người âm thầm giữ một ngọn đèn cho người khác. Không phải những người tự xem mình là anh hùng, nhưng là những người biết mình yếu đuối và để Thiên Chúa hành động qua sự yếu đuối ấy. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã là một người như thế. Người không chỉ để lại một ngàn lẻ một lời. Người đã để lại một con đường.

Con đường ấy bắt đầu từ sự hiện diện với Chúa, với Hội Thánh và với con người. Con đường ấy được bước đi bằng việc chu toàn phận sự trong giây phút hiện tại. Con đường ấy mang tinh thần phụng sự, phát triển, Phúc Âm hóa và thánh hóa. Con đường ấy đi qua thập giá nhưng không dừng ở thập giá. Con đường ấy có những đêm dài, nhưng cuối đường là bình minh phục sinh. Con đường ấy không dành riêng cho một vị hồng y, một giám mục hay một người sống đời thánh hiến. Đó là con đường của mỗi người đã lãnh nhận phép Rửa, của tất cả những ai tin rằng Thiên Chúa lớn hơn mọi thất bại, tình yêu mạnh hơn hận thù và sự sống mạnh hơn cái chết.

Hôm nay, khi nhìn lại nửa thế kỷ của Đường Hy Vọng, có lẽ mỗi chúng ta cần tự hỏi: tôi sẽ viết tiếp con đường ấy bằng cách nào? Có thể tôi không viết được một cuốn sách. Có thể tôi không làm những việc lớn. Có thể cuộc đời tôi rất bình thường và không ai biết đến. Nhưng tôi có thể sống một ngày thật đẹp trước mặt Chúa. Tôi có thể làm một việc nhỏ với tình yêu lớn. Tôi có thể kiên nhẫn thêm một chút, cầu nguyện thêm một chút, tha thứ thêm một chút, phục vụ thêm một chút. Tôi có thể không thay đổi được cả thế giới, nhưng có thể làm cho thế giới của một người bớt tối hơn.

Đó chính là Đường Hy Vọng. Không phải một con đường trải đầy hoa, nhưng là con đường trên đó mỗi gai nhọn đều có thể trở thành lời dâng hiến. Không phải con đường không có nước mắt, nhưng là con đường nơi nước mắt được Thiên Chúa lau khô. Không phải con đường không có thập giá, nhưng là con đường trên đó thập giá trở thành cây cầu dẫn đến phục sinh. Không phải con đường của những người mạnh mẽ theo tiêu chuẩn trần gian, nhưng là con đường của những người dám yếu đuối trong tay Chúa và để Người trở thành sức mạnh của mình.

Đấng Đáng kính Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã đi con đường ấy trước chúng ta. Người đã bước đi trong cô đơn, trong tù đày, trong bất định, nhưng từng bước chân của người đều được thắp sáng bởi niềm tin. Năm mươi năm sau ngày những câu Đường Hy Vọng ra đời, ánh sáng ấy vẫn còn. Nó không chói lòa, không ồn ào, nhưng bền bỉ như ngọn đèn chầu trong đêm, nhắc rằng Chúa vẫn ở đó. Khi ta thất bại, Chúa vẫn ở đó. Khi ta bị bỏ rơi, Chúa vẫn ở đó. Khi ta không hiểu nổi đời mình, Chúa vẫn ở đó. Khi mọi con đường tưởng như khép lại, Chúa vẫn đang mở một con đường khác trong lòng ta.

Xin cho chúng ta đừng chỉ đọc Đường Hy Vọng bằng đôi mắt, nhưng bằng cuộc đời. Xin cho chúng ta biết sống giây phút hiện tại và lấp đầy nó bằng tình yêu. Xin cho chúng ta biết chu toàn những việc bình thường một cách phi thường. Xin cho chúng ta biết hiện diện nơi người khác cần ta, phục vụ mà không tìm phần thưởng, yêu thương mà không tính toán và trung thành cả khi không ai nhìn thấy. Xin cho mỗi người chúng ta trở thành một ngọn đèn hy vọng giữa gia đình, cộng đoàn và xã hội. Và khi cuộc hành trình trần thế đi đến chặng cuối, xin cho ta có thể bình an nhìn lại và nhận ra rằng dù con đường từng có nhiều bóng tối, ta đã không đi một mình, bởi Đức Kitô, niềm hy vọng duy nhất của nhân loại, đã luôn đồng hành, nâng đỡ và dẫn ta về Nhà Cha.

Lm. Anmai, CSsRĐƯỜNG HY VỌNG MỘT CON ĐƯỜNG ĐƯỢC VIẾT BẰNG NƯỚC MẮT, NIỀM TIN VÀ TÌNH YÊU

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập271
  • Máy chủ tìm kiếm5
  • Khách viếng thăm266
  • Hôm nay51,361
  • Tháng hiện tại3,318,499
  • Tổng lượt truy cập113,189,568
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây