Cựu Chủng Sinh Huế

http://www.cuucshuehn.net


Thánh Thể trong ngục tù và ánh sáng không bao giờ tắt [3]

Khi Chúa bóc khỏi tay ta những điều rất thánh, rất đẹp, rất hợp lý, rất chính đáng, ta dễ tưởng như Người đang lấy mất ý nghĩa đời mình. Nhưng thật ra, có những lúc Chúa phải lấy khỏi tay ta những điều thuộc về Người, để xem tim ta có thật sự thuộc về Người hay không.


ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA ĐỨC HỒNG Y VĂN THUẬN NHƯ TRƯỜNG HỌC CHO LINH MỤC TRẺ, NGƯỜI ĐAU KHỔ, NGƯỜI ĐANG KHỦNG HOẢNG ĐỨC TIN, VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC “CHỌN CHÚA CHỨ KHÔNG CHỈ CHỌN CÔNG VIỆC CỦA CHÚA”

Chúng ta cần bước vào sâu hơn nữa, sâu đến vùng thẳm kín nhất của một con người, nơi mà không ai thấy bằng mắt, không ai đo được bằng thành tích, không ai đánh giá được bằng chức vụ, nhưng chính nơi đó lại là chỗ quyết định tất cả. Đó là đời sống nội tâm.

Có những người bên ngoài rất thành công mà bên trong trống rỗng. Có những người bên ngoài rất bận rộn mà bên trong đã cạn. Có những người nói rất hay về Chúa mà bên trong lại không còn sống gần Chúa nữa. Có những người làm vô số việc cho Hội Thánh mà trong lòng lại âm thầm xa dần trung tâm. Và cũng có những người bên ngoài chẳng có gì nổi bật, chẳng còn quyền hành, chẳng còn phương tiện, chẳng còn tiếng nói, nhưng bên trong lại là một ngọn núi vững. Chính vì thế, nếu muốn hiểu tận gốc tại sao Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có thể đi qua ngục tù mà không đánh mất ánh sáng, tại sao ngài có thể bị bẻ ra mà không tan nát, bị lấy mất gần như tất cả mà vẫn không hóa cay đắng, ta không thể chỉ nhìn vào biến cố bên ngoài. Ta phải đi vào nội tâm của ngài.

Nội tâm ấy không phải tự nhiên mà có. Không phải chỉ vì ngài có cá tính mạnh. Không phải chỉ vì ngài được giáo dục tốt. Không phải chỉ vì ngài là người đạo đức từ nhỏ. Tất cả những điều đó có thể đúng phần nào, nhưng chưa chạm vào tận cùng. Nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận là một nội tâm đã được đào sâu bởi cầu nguyện, được thanh luyện bởi thử thách, được nuôi dưỡng bởi Thánh Thể, được giữ sáng bởi đức cậy, và nhất là được quy hướng trọn vẹn về một chọn lựa căn bản: chọn chính Chúa. Không chỉ chọn những điều thuộc về Chúa. Không chỉ chọn công việc của Chúa. Không chỉ chọn sứ vụ, trách nhiệm, chương trình, vai trò, thành quả, ảnh hưởng, nhưng chọn chính Chúa.

Đây là điều rất lớn. Và cũng là điều rất đau. Vì trong đời sống thiêng liêng, có một cám dỗ rất tinh vi: người ta tưởng mình yêu Chúa, nhưng thật ra nhiều khi người ta yêu công việc của Chúa hơn. Người ta tưởng mình trung thành với Chúa, nhưng thật ra nhiều khi người ta trung thành với hình ảnh của mình trong công việc của Chúa. Người ta nghĩ mình đang phục vụ Chúa, nhưng sâu xa nhiều lúc, điều họ không muốn mất không hẳn là Chúa, mà là vị trí của họ, vai trò của họ, ảnh hưởng của họ, công trình của họ, tiếng nói của họ, cảm giác mình đang có ích, cảm giác mình quan trọng trong nhà Chúa.

Cám dỗ này đặc biệt mạnh nơi những người nhiệt thành, những người có trách nhiệm, những người có ơn lãnh đạo, những người được giao việc lớn. Vì khi làm việc của Chúa lâu ngày, người ta rất dễ đồng hóa mình với công việc ấy. Rồi đến một lúc, nếu Chúa lấy công việc ấy đi, lòng mình mới lộ ra đang bám vào đâu. Nếu Chúa cho mình đứng ngoài lề, nếu Chúa để mình bị hiểu lầm, nếu Chúa để công việc đang dang dở bị cắt ngang, nếu Chúa không cho mình tiếp tục điều mình nghĩ là tốt và cần, lúc ấy mới thấy liệu mình có thật sự muốn Chúa không, hay chỉ muốn làm điều gì đó cho Chúa.

Đức Hồng y Văn Thuận đã đi vào chính lửa thử ấy. Ngài không bị bắt vào một thời điểm đã xế chiều, khi mọi việc đã làm xong, khi tuổi đã già, khi trách nhiệm đã nhẹ. Không. Ngài bị bứng ra giữa lúc một chặng đường mới vừa mở ra. Giữa lúc một sứ vụ mới được trao. Giữa lúc tương lai như đang gọi mời. Có lẽ đó mới là nhát cắt đau nhất. Nếu một người đã làm xong mọi chuyện rồi mới phải buông, nỗi đau đã lớn. Nhưng khi một người đang mang trong tim biết bao dự tính cho Hội Thánh, đang mang trong lòng nhiệt huyết mục tử, đang thấy trước mắt biết bao nhu cầu của đoàn chiên, mà bị kéo ra khỏi tất cả một cách đột ngột, thì nỗi đau ấy chạm tận gốc của căn tính.

Chính ở đây, đời sống nội tâm của ngài trở thành một trường học vĩ đại. Vì thay vì gào lên trong cay đắng rằng “Tại sao Chúa lại làm thế với con?”, ngài đã đi tới một chỗ sâu hơn: nếu con không còn được làm việc cho Chúa theo cách con muốn, liệu con có còn chọn chính Chúa không? Nếu con không còn tòa giám mục, không còn giáo phận, không còn quyền hành, không còn sứ vụ hữu hình, không còn chương trình, không còn cơ hội thi thố tài năng, thì con có còn yêu Chúa không? Nếu Chúa không cần những dự định đẹp của con nữa, mà chỉ cần chính con trong tình trạng bị bẻ gãy, bị ẩn khuất, bị vô danh, thì con có chấp nhận không?

Đây không chỉ là câu hỏi dành cho một vị giám mục trong lao tù. Đây là câu hỏi cho mọi ơn gọi. Cho linh mục. Cho tu sĩ. Cho giáo dân. Cho người trẻ. Cho bất cứ ai đang sống một đời có lý tưởng. Bởi vì ai càng nhiệt thành, càng có nguy cơ vô tình đặt công việc của Chúa lên trước chính Chúa. Người ta có thể yêu bài giảng của mình hơn là yêu sự thinh lặng trước Nhà Tạm. Người ta có thể yêu việc tổ chức mục vụ hơn là yêu giờ cầu nguyện. Người ta có thể yêu hình ảnh “mình đang hữu ích” hơn là yêu việc ở lại trong tay Chúa ngay cả khi chẳng còn làm được gì. Người ta có thể yêu thành quả tông đồ hơn là yêu sự kết hiệp với Đấng mình phục vụ.

Và đây là một sự thanh luyện rất đau. Vì khi Chúa bóc khỏi tay ta những điều rất thánh, rất đẹp, rất hợp lý, rất chính đáng, ta dễ tưởng như Người đang lấy mất ý nghĩa đời mình. Nhưng thật ra, có những lúc Chúa phải lấy khỏi tay ta những điều thuộc về Người, để xem tim ta có thật sự thuộc về Người hay không. Đây là điều mà Đức Hồng y Văn Thuận đã học bằng nước mắt, bằng cô độc, bằng những năm dài không thấy lối ra. Và chính vì đã học được điều ấy, nên đời sống nội tâm của ngài mới trở thành một trường học cho bao thế hệ.

Trước hết, đó là trường học cho linh mục trẻ.

Linh mục trẻ thường bắt đầu sứ vụ với rất nhiều lý tưởng đẹp. Và điều đó quý biết bao. Có lửa. Có nhiệt tâm. Có thao thức. Có những giấc mơ mục vụ. Có nhu cầu làm điều tốt cho giáo dân. Có khao khát giảng hay hơn, phục vụ tốt hơn, xây cộng đoàn mạnh hơn, đổi mới hơn, chạm được nhiều người hơn. Tất cả những điều ấy là hồng ân. Nhưng cũng chính ở đó tiềm ẩn một nguy cơ rất âm thầm: đồng hóa giá trị linh mục của mình với kết quả bên ngoài.

Một linh mục trẻ rất dễ thấy mình có ý nghĩa khi bận. Dễ thấy mình hữu ích khi được cần đến. Dễ thấy mình được khẳng định khi lời giảng có người khen, khi chương trình có kết quả, khi cộng đoàn đông, khi công việc nhiều, khi người ta nhắc đến tên mình với sự nể phục. Tất cả những điều đó tự nó không xấu. Nhưng nếu không cẩn thận, lòng người linh mục sẽ dần dần hút sự sống từ thành quả hơn là từ Chúa. Và khi đó, chỉ cần một hiểu lầm, một thất bại, một lần bị chuyển đi không như ý, một giai đoạn bệnh tật, một thời kỳ khô khan, một sự bị bỏ quên, là nội tâm bắt đầu chao đảo rất mạnh.

Đức Hồng y Văn Thuận dạy cho linh mục trẻ một bài học không thể thiếu: trước khi là người làm việc cho Chúa, con phải là người ở với Chúa. Trước khi là người có chương trình, con phải là người có nội tâm. Trước khi là người cầm nhiều việc, con phải là người biết quỳ. Trước khi là người nói nhiều về Chúa, con phải là người biết ở yên đủ lâu trước mặt Chúa để lời mình nói ra không chỉ là âm thanh, nhưng là điều đã được chưng cất trong cầu nguyện.

Có những linh mục giỏi nhưng mau cạn. Có những linh mục hay nhưng mau mệt. Có những linh mục rất nhiệt thành lúc đầu nhưng vài năm sau chỉ còn làm việc theo quán tính. Tại sao? Thường không phải vì thiếu tài, mà vì thiếu nội tâm. Một người sống chủ yếu bằng việc làm sẽ mau khô khi việc làm không còn nâng đỡ được mình nữa. Còn người sống bằng Chúa thì ngay cả khi việc làm bị cắt đi, họ vẫn còn nền. Đây chính là tự do nội tâm của người linh mục: làm hết sức cho đoàn chiên, nhưng không lấy thành công mục vụ làm căn tính của mình; yêu sứ vụ, nhưng không để sứ vụ thay chỗ của Chúa; đau khi bị hiểu lầm, nhưng không để hiểu lầm đốt cháy lòng yêu mến; trung thành với bổn phận, nhưng không để bổn phận làm nghẹt đời cầu nguyện.

Đời sống nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận nói với linh mục trẻ rằng: có thể có ngày con không còn giảng được, không còn đi lại được, không còn tổ chức được, không còn ảnh hưởng được, không còn “làm được gì lớn” theo cái nhìn loài người, nhưng nếu con vẫn còn biết ở lại với Chúa, con vẫn còn là linh mục thật. Có khi những năm tháng âm thầm nhất, bất lực nhất, bị giới hạn nhất, lại là lúc Thiên Chúa làm những điều sâu nhất trong con. Đừng sợ bị lấy mất công việc đến mức quên mất chính Đấng gọi mình. Đừng sợ những thời kỳ bị bẻ gãy đến mức chỉ còn biết tự thương thân. Hãy học giữ cho mình một nơi nội tâm mà ở đó, dù mọi thứ bên ngoài đổi thay, Chúa vẫn là Đấng không đổi thay.

Rồi từ trường học ấy, đời sống nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận trở thành ánh sáng cho người đau khổ.

Đau khổ có nhiều dạng. Có đau khổ thể xác. Có đau khổ tinh thần. Có đau khổ đến từ bệnh tật kéo dài. Có đau khổ vì gia đình đổ vỡ. Có đau khổ vì bị phản bội. Có đau khổ vì mất người thân. Có đau khổ vì con cái hư hỏng. Có đau khổ vì mình đã cố sống tốt mà vẫn gặp bất công. Có đau khổ vì cầu nguyện hoài mà chẳng thấy gì thay đổi. Có những nỗi đau ở ngoài da. Nhưng cũng có những nỗi đau ở sâu trong tim, không ai thấy, không ai chạm tới.

Điều khó nhất của đau khổ không chỉ là nó làm mình đau. Điều khó hơn là nó làm mình cảm thấy bị cô lập. Người đau khổ thường có cảm giác mình không được hiểu trọn. Người khác có thể an ủi, nhưng không thật sự bước vào được cõi lòng của mình. Có những giây phút đau mà người ta không biết nói sao. Có những đêm dài mà chỉ ai đang ở trong đó mới hiểu nổi. Chính vì vậy, người đau khổ không chỉ cần lời giải thích. Họ cần một sự hiện diện. Cần một Đấng ở lại. Cần một nơi nội tâm đủ sâu để nỗi đau không nuốt mất toàn bộ con người mình.

Đức Hồng y Văn Thuận không dạy người đau khổ bằng lý thuyết. Ngài dạy bằng chính cách ngài ở với Chúa trong đau khổ. Ngài không phủ nhận nỗi đau. Không tô hồng. Không giả vờ mạnh. Nhưng ngài không cho phép đau khổ trở thành chủ nhân của nội tâm mình. Đây là điều rất quý. Vì có những người khi đau, mọi thứ trong lòng bắt đầu xoay quanh cái đau ấy. Dần dần, họ không còn sống, mà chỉ còn phản ứng với nỗi đau. Họ nhìn mọi sự qua lăng kính bị thương. Họ nhớ mọi điều qua lăng kính mất mát. Họ tiếp xúc với người khác từ vị trí bị tổn thương. Cuối cùng, đau khổ không chỉ là một biến cố, mà trở thành căn tính.

Còn nơi Đức Hồng y Văn Thuận, nỗi đau có thật, nhưng căn tính sâu nhất của ngài vẫn là người thuộc về Chúa. Chính điều đó giữ ngài khỏi tan. Và đây là bài học lớn cho bất cứ ai đang mang đau khổ hôm nay: con không phải chỉ là vết thương của con. Con không phải chỉ là bệnh tật của con. Con không phải chỉ là thất bại của con. Con không phải chỉ là cuộc hôn nhân khó khăn của con. Con không phải chỉ là đứa con làm con khóc. Con không phải chỉ là quá khứ làm con tê tái. Sâu hơn mọi điều ấy, con là người được Chúa yêu. Khi một người giữ được chân lý ấy trong đau khổ, họ bắt đầu có sức để không để khổ đau hút cạn đời mình.

Nhưng làm sao giữ được điều đó? Chính ở đây, nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận trở thành trường học. Trường học của cầu nguyện trong đêm tối. Trường học của ở lại. Trường học của hiệp dâng. Trường học của việc không đòi phải hiểu hết mọi sự trước rồi mới tín thác. Nhiều người đau khổ vì cứ muốn biết tại sao trước khi chấp nhận rằng Chúa vẫn ở đó. Nhưng không phải câu hỏi nào ở đời này cũng có lời giải rõ ràng. Có những đau khổ ta chỉ có thể mang vào trong lòng Chúa, chứ không thể giải ra như một bài toán. Có những vết thương không được chữa lành bằng giải thích, mà bằng hiệp thông. Và đây chính là điều ngài đã sống: thay vì để mình bị nhấn chìm bởi câu hỏi “tại sao?”, ngài đi đến câu hỏi sâu hơn: “Lạy Chúa, con sẽ sống điều này với Ngài thế nào?”

Đó là bước chuyển rất quan trọng. Từ đòi hiểu mọi thứ sang học ở lại với Chúa trong điều mình chưa hiểu. Từ đòi lối thoát ngay sang học hiệp dâng từng ngày. Từ xoáy vào hoàn cảnh sang quay về tương quan. Và chính sự chuyển hướng ấy làm cho đau khổ, dù không bớt ngay, cũng không còn là vực thẳm không đáy nữa.

Không chỉ cho người đau khổ, đời sống nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận còn là trường học quý giá cho người đang khủng hoảng đức tin.

Khủng hoảng đức tin là một thử thách rất thật. Có những người không mất đức tin vì họ ghét Chúa. Họ mất dần ánh sáng vì họ quá mệt, quá thất vọng, quá đau, quá hoang mang. Có những người không bỏ Chúa trong một ngày. Họ chỉ dần dần nguội lạnh, dần dần không còn cầu nguyện, dần dần không còn thấy ý nghĩa của phụng vụ, dần dần không còn biết vì sao mình phải cố nữa. Có những người đi lễ mà lòng trống. Có những người đọc kinh mà cảm thấy như nói vào khoảng không. Có những người từng sốt sắng nhưng sau một biến cố, một mất mát, một cú sốc, một sự phản bội, lòng họ tối lại.

Những người ấy không cần bị kết án. Họ cần được đồng hành bằng ánh sáng của những chứng nhân đã đi qua đêm tối mà vẫn không buông tay Chúa. Đức Hồng y Văn Thuận là một chứng nhân như thế. Không phải vì ngài chưa từng bị thử thách trong đức tin. Nhưng vì ngay giữa thử thách ấy, ngài không cắt đứt dây nối với Chúa. Đây là điều quan trọng. Có khi người ta không còn cảm thấy gì, nhưng vẫn còn trung thành. Có khi người ta không hiểu gì, nhưng vẫn còn quỳ xuống. Có khi người ta không thấy an ủi, nhưng vẫn còn thì thầm: “Lạy Chúa, xin đừng bỏ con.” Chính sự trung thành mỏng manh mà thật ấy nhiều khi là đức tin đẹp nhất.

Người đang khủng hoảng đức tin thường đau ở chỗ họ nghĩ rằng muốn cầu nguyện thì phải có cảm xúc, muốn tin thì phải thấy sáng, muốn sống đạo thì phải thấy hứng. Nhưng nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận dạy rằng đức tin trưởng thành khi người ta bám vào Chúa cả khi không còn những hỗ trợ cảm xúc ấy. Người ta vẫn đến với Thánh Thể. Vẫn giữ một mối dây. Vẫn không bỏ cầu nguyện, dù cầu nguyện rất nghèo. Vẫn không bỏ Chúa, dù lòng không biết nói gì ngoài một tiếng thở dài. Có những giai đoạn trong đời, đức tin không rực cháy như pháo sáng. Nó chỉ cháy như một tim đèn nhỏ. Nhưng chính tim đèn nhỏ đó, nếu không tắt, sẽ cứu cả đêm.

Đức Hồng y Văn Thuận cũng dạy người khủng hoảng đức tin rằng nội tâm không được xây trên cảm giác về Chúa, mà trên chính Chúa. Cảm giác là điều quý, nhưng không bền. Hôm nay có thể sốt sắng, ngày mai có thể khô. Hôm nay có thể thấy Chúa rất gần, ngày mai có thể thấy như Người im lặng. Nếu nội tâm xây trên cảm giác, ta sẽ lên xuống liên tục. Nhưng nếu xây trên sự trung thành, trên cầu nguyện, trên Thánh Thể, trên lời Chúa, trên quyết định yêu mến Chúa dù mù tối, thì nội tâm ấy sẽ dần dần có chiều sâu. Không phải chiều sâu của cảm xúc mạnh, mà của một lòng trung thành được tinh luyện.

Và bây giờ, ta phải chạm vào trung tâm của cả phần này: ý nghĩa của việc “chọn Chúa chứ không chỉ chọn công việc của Chúa.”

Có lẽ đây là một trong những bài học đau nhất nhưng đẹp nhất mà Thiên Chúa dạy các linh hồn Người yêu. Chọn công việc của Chúa thường dễ thấy hơn. Nó có hình. Có kết quả. Có niềm vui. Có cảm giác rõ ràng là mình đang làm gì đó có ích. Nó cho ta thấy mình hiện diện, mình cần thiết, mình có chỗ đứng. Còn chọn chính Chúa nhiều khi lại đi vào vùng ẩn khuất. Có khi chọn Chúa nghĩa là ngồi yên trong bất lực mà không thấy mình “làm được gì”. Có khi chọn Chúa nghĩa là chấp nhận bị cắt khỏi điều mình yêu thích. Có khi chọn Chúa nghĩa là trung thành trong khô khan. Có khi chọn Chúa nghĩa là chấp nhận để cho Người không làm theo kế hoạch đẹp của mình. Có khi chọn Chúa nghĩa là yêu Người cả khi mình không còn được làm điều mình nghĩ là phục vụ Người tốt nhất.

Điều này làm lộ ra rất nhiều sự thật. Một người có thể hy sinh rất nhiều cho một công việc thánh, nhưng nếu Chúa lấy công việc ấy đi, họ có thể sụp. Điều đó không nhất thiết vì họ xấu, nhưng vì sâu xa họ đã đặt quá nhiều căn tính vào vai trò ấy. Còn người đã chọn chính Chúa, dù Chúa cho làm việc lớn hay để ngồi trong bóng tối, dù Chúa cho thành công hay cho thất bại, dù Chúa dùng họ ở chỗ sáng hay để họ bị quên lãng, lòng họ vẫn còn nền. Vì cái họ giữ không phải là nhiệm vụ, mà là Đấng giao nhiệm vụ.

Đức Hồng y Văn Thuận là người đã được Chúa dẫn vào con đường ấy. Và ngài không chỉ đi vào bằng ý tưởng, mà bằng cả đời mình. Khi Chúa để ngài bị tách khỏi công việc của Chúa, ngài vẫn không rời Chúa. Khi Chúa không cho ngài làm điều mà theo cái nhìn mục vụ xem ra rất cần, ngài vẫn không chọn cay đắng. Khi Chúa đóng một cánh cửa lớn trước mặt, ngài học mở lòng ra với chính Chúa trong căn phòng chật hẹp hơn. Đây là một sự trưởng thành nội tâm vô cùng lớn. Không nhiều người đi đến được chỗ đó. Vì chỗ đó đòi phải chết đi rất nhiều: chết đi cái tôi đạo đức, chết đi hình ảnh đẹp về chính mình, chết đi nhu cầu phải được hữu ích theo kiểu mình muốn, chết đi cảm giác mình là trung tâm của câu chuyện.

Nhưng chính khi chết đi như thế, con người mới thật sự tự do để yêu Chúa vì Chúa. Chứ không chỉ vì những gì thuộc về Người. Và một khi đã yêu Chúa như thế, người ta có thể bước vào mọi cảnh huống mà không mất gốc. Đây là điều Hội Thánh hôm nay rất cần. Rất cần những linh mục yêu Chúa hơn cả công việc mục vụ. Rất cần những tu sĩ yêu Chúa hơn cả hình thức của đời dòng. Rất cần những giáo dân yêu Chúa hơn cả cảm giác được nâng đỡ khi sống đạo. Rất cần những người trẻ yêu Chúa hơn cả các dự án tôn giáo mà họ tham gia. Vì chỉ khi ấy, đức tin mới đủ sâu để đi qua thử thách.

Thưa cộng đoàn, ta thử hỏi lại lòng mình: điều gì sẽ xảy ra nếu Chúa lấy đi điều tôi đang xem là cách tôi phục vụ Người? Nếu tôi không còn làm được như trước nữa? Nếu tôi không còn được người ta cần đến như trước nữa? Nếu tôi không còn có vị trí quen thuộc nữa? Nếu tôi không còn thành công như mình mong nữa? Nếu Chúa muốn tôi đi vào một giai đoạn âm thầm, ẩn khuất, bất lực, khô khan? Tôi còn chọn Chúa không? Tôi còn yêu Chúa không? Tôi còn tin rằng đời mình có ý nghĩa không?

Đây là những câu hỏi không dễ. Nhưng phải hỏi. Vì nếu không, ta sẽ rất dễ sống một đời đạo bề ngoài sốt sắng mà bên trong còn đặt sai trung tâm. Đức Hồng y Văn Thuận không chỉ cho ta câu trả lời bằng lời nói. Ngài cho ta câu trả lời bằng cuộc đời. Và câu trả lời ấy rất dịu dàng nhưng rất dứt khoát: khi con chọn chính Chúa, con sẽ mất ít hơn con tưởng, vì điều quý nhất không ai lấy khỏi con được.

Có thể phần lớn chúng ta sẽ không bao giờ bị đưa vào một ngục tù như ngài. Nhưng ai cũng sẽ có những lúc bị “lấy đi”. Một người mẹ bị lấy đi sức khỏe. Một người cha bị lấy đi công việc. Một linh mục bị lấy đi môi trường mục vụ quen thuộc. Một người trẻ bị lấy đi ước mơ mà mình từng xây cả trái tim vào đó. Một gia đình bị lấy đi bình yên bởi biến cố bất ngờ. Một người bệnh bị lấy đi tương lai mình tưởng đã có thể chạm tới. Chính trong những lúc ấy, đời sống nội tâm sẽ lộ rõ. Nếu nội tâm được xây trên chính Chúa, dù đau đến đâu, con người vẫn còn đất đứng. Còn nếu chỉ xây trên công việc của Chúa, hay trên những quà tặng của Chúa, thì khi các điều ấy bị lấy đi, lòng dễ rơi vào sụp đổ.

Bởi vậy, đời sống nội tâm của Đức Hồng y Văn Thuận là một trường học không bao giờ cũ. Một trường học dạy linh mục trẻ giữ bàn thờ trong tim trước khi giữ cả trăm công việc trong tay. Một trường học dạy người đau khổ biết rằng mình không chỉ là vết thương của mình. Một trường học dạy người đang khủng hoảng đức tin rằng đêm tối không phải là dấu chấm hết của lòng tin, nếu tim đèn nhỏ vẫn còn cháy. Một trường học dạy mọi người yêu Chúa hơn mọi sự thuộc về Chúa. Một trường học dạy rằng cốt lõi của đời sống thiêng liêng không phải là tôi làm được gì cho Chúa, mà là tôi thuộc về ai.

(Còn tiếp)

Lm Anmai, CSsR

Kỳ tới: ĐỨC HỒNG Y VĂN THUẬN NHƯ BIỂU TƯỢNG CỦA HY VỌNG KITÔ GIÁO GIỮA MỘT THẾ GIỚI MỆT MỎI, TUYỆT VỌNG, CHIA RẼ VÀ ĐẦY NHỮNG “NHÀ TÙ VÔ HÌNH” CỦA THỜI ĐẠI HÔM NAY

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây