Bài Ca Đức Ái
- Thứ sáu - 07/08/2026 18:33
- In ra
- Đóng cửa sổ này

“Sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thương”
Câu nói trên không phải trích dẫn từ một danh nhân hay một nhà hiền triết, khi suy tư về cuộc nhân sinh.
Câu nói trên là bí quyết, là di sản của một con người đã trải qua nhiều biến cố đau thương trong cuộc đời, một chứng nhân vĩ đại của niềm hy vọng Kitô giáo: Đấng Đáng kính Đức Cố Hồng y PX Nguyễn Văn Thuận.
Khi suy tư về cuộc đời của Đấng Đáng kính Đức HY PX Nguyễn Văn Thuận, từ lúc ngài có trí khôn, đến khi kết thúc cuộc đời dương thế, tôi có cảm giác, điều làm cho tâm hồn ngài bị dằn vặt nhiều nhất, gây đau đớn nhất, phải chiến đấu nhiều nhất, thậm chí có lúc làm tâm trí ngài nổi loạn, tinh thần sụp đổ, đó không phải nhà tù, không phải đối diện với cái chết, nhưng chính là khi phải đối diện với sự tha thứ. Nếu đọc kỹ về những giai đoạn của cuộc đời ngài, có thể thấy sự tha thứ là thử thách khó khăn nhất mà ngài phải trải qua. Bởi lẽ cuộc đời ngài và gia tộc gắn liền với lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam.
- Thử thách đầu tiên đến vào năm 1945, khi PX Nguyễn Văn Thuận còn là chủng sinh và sắp bước vào Đại Chủng viện. Người cậu ruột của ngài là cụ Tổng đốc Ngô Đình Khôi, con trai đầu của cụ Ngô Đình Khả và là con rể cụ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, bị giết ngày 31/8/1945 cùng với con trai Ngô Đình Huân khi Việt Minh lên nắm chính quyền. Điều này tạo nên một cú sốc khủng khiếp nơi PX Nguyễn Văn Thuận. Ngài nghĩ rằng trong trường hợp này sự tha thứ là điều không thể, vì nó vượt quá khả năng của con người. Ý nghĩ ma quỷ đó luôn lởn vởn trong đầu, cho đến khi một lần lúc đang cầu nguyện, ngài nghe được tiếng nói của Chúa: “Phanxicô, trong nhà của Ta, tha thứ không phải là một lựa chọn!”. Ngài quyết định sử dụng ý chí để không nghĩ về nó nữa. Để có thể quên đi nỗi đau này, PX Nguyễn Văn Thuận tìm đọc cuốn sách viết về cuộc đời của Chân phước José Ramon Manuel Pro Juares, người đã chịu tra tấn và giết chết bởi chế độ độc tài ở Mêxicô: Cha Pro Juares đã chết trong khi tha thứ cho những kẻ tra tấn mình. Dù vậy, sự bất công và tàn nhẫn đã gây một vết thương lớn trong trái tim ngài, vết thương đó vẫn tiếp tục rỉ máu trong những năm tháng sau đó, dù ngài cố che dấu. Lần thứ nhất ngài vượt qua nỗi đau và không nuôi oán hận.
- Thử thách lần thứ hai, lần này kinh khủng hơn, khi ngài đã là linh mục và là Giám đốc Tiểu Chủng viện Hoan Thiện. Ngày 02 tháng 11 năm 1963, cha PX Nguyễn Văn Thuận được tin cả ba người cậu ruột còn lại của mình, cậu Ngô Đình Diệm, cậu Ngô Đình Nhu, và chỉ vài tháng sau là cậu Ngô Đình Cẩn, tất cả bị giết bởi những kẻ phản bội với âm mưu và sự giúp đỡ của chính quyền Mỹ. Ông Ngô Đình Diệm vừa là cậu, vừa là cha đỡ đầu của PX Nguyễn Văn Thuận, sau khi cha đỡ đầu Rửa tội của ngài là Ông Nguyễn Văn Lễ, chồng của dì Hoàng, qua đời năm 1943. Là con cháu của gia tộc Ngô Đình, PX Nguyễn Văn Thuận biết rất rõ các cậu mình là những người đạo đức liêm chính, những người yêu nước chân chính. Trong hoàn cảnh đất nước nhiễu nhương và hỗn loạn, chiến tranh, vì sự tranh dành của các hệ tư tưởng, gia tộc Ngô Đình đã quyết định dấn thân vì tiền đồ của dân tộc. Cái chết tức tưởi và tàn bạo của những người thân này, bởi âm mưu của người Mỹ; nỗi đau vì cái chết của những người thân yêu nhất cộng với nỗi thất vọng trước tiền đồ dân tộc, đã một lần nữa khoét sâu vào trái tim ngài nỗi căm hận khủng khiếp. Suốt những tháng sau đó, ngài chìm đắm trong đêm tối nội tâm, bị ám ảnh bởi những bất công, bởi sự tuyệt vọng, thậm chí là điên loạn. Nhưng, lần thứ hai ngài vượt qua nỗi đau và không nuôi oán hận.
Bà Thu Hồng kể lại: “Gia đình chúng tôi đã chịu biết bao đau đớn: hai người cậu của chúng tôi, cậu Diệm và cậu Nhu, bị nhóm quân sự đảo chính giết chết vào cuối năm 1963. Cậu Cẩn bị bắt và bị xử tử một năm sau đó. Lòng anh Thuận nặng trĩu đau buồn và tràn ngập tức giận. Anh hiếm khi ngủ được. Đối diện với những đau khổ này, lúc đầu anh cảm thấy rất nhiều cay đắng. Nhưng bề ngoài anh vẫn giữ vẻ điềm tĩnh và lắng nghe những người đến nói chuyện với anh ở Tòa Giám mục. Rất có thể công việc căng thẳng mà anh tự ép mình làm đã giúp anh vượt qua nỗi đau xé lòng. Nhưng trên hết, cầu nguyện đã giúp anh đứng vững. Không có Thiên Chúa trợ giúp, anh đã không thể nào tha thứ” (Nguyễn Văn Châu, Une vie d’espérance).
“Trong thời kỳ ấy, anh tôi đau khổ vô cùng, không chỉ vì vụ ám sát các cậu, còn vì tình trạng hỗn loạn mà đất nước thân yêu của chúng tôi đang chìm vào.” (x. Nguyễn Thị Thu Hồng & Stefaan Lecleir, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Chứng từ về cuộc đời, tổ quốc và lịch sử gia đình, tr. 261).
- Không dừng lại ở đó, thử thách thứ ba khốc liệt nhất diễn ra ngay chính nơi bản thân, khi ngài là Giám mục.
Từ năm 1975 (Lễ Mẹ Lên Trời) đến năm 1988, Đức Cha Thuận đã phải trải qua 13 năm trong 6 nhà tù: Khởi đầu là tại Cây Vông, Nha Trang (1975), Phú Khánh (19/3/1976), Vĩnh Quang, Vĩnh Phú (29/11/1976), Thanh Liệt, Thanh Trì (05/02/1977), Giang Xá, Hà Nội (quản thúc, 13/5/1978), trại giam Hà Nội (05/11/1982), sau đó được trả tự do vào ngày 21/11/1988, ngày Lễ Đức Mẹ Dâng Mình.
Trại giam Phú Khánh là nơi thử thách giới hạn sức chịu đựng thể chất và tinh thần của Đức Cha Thuận. Bà Elizabeth Thu Hồng, em gái út của ngài kể lại:
“Sự tống giam anh là một hình thức tra tấn thường trực. Các điều kiện vật chất trong xà lim biệt lập này cực kỳ khắc nghiệt. Về sau anh kể lại rằng xà lim và nệm của anh rất ẩm ướt. Nấm mọc trên nệm rơm của anh. Khi trời mưa, mực nước dâng cao và những con côn trùng nhỏ, ếch, giun và rết tràn ngập trong xà lim của anh. Anh không còn sức để tiêu diệt chúng (Nguyễn Văn Thuận, J’ai suivi Jésus, tr. 23). Không khí xuyên qua các khe cửa, khiến anh phải hít thở mùi hôi thối của hố xí nằm trước phòng giam. Anh trải qua những ngày dài nằm trên mặt đất vì một lần, anh nhìn thấy dưới chân tường có một cái lỗ cho nước chảy qua. Anh nhét mũi vào đó để thở. Anh đã cố gắng, bằng mọi giá, duy trì cho tốt tình trạng thể chất và nỗ lực đi bộ từ bức tường này sang bức tường khác của ngục tối. Vào mùa hè, ngục này đã trở thành một lò nướng thực sự. Vì nắng nóng và ẩm ướt, quần áo anh nhanh chóng ướt sủng mồ hôi (Nguyễn Văn Châu, Une vie d’espérence, tr. 271-277), anh đã mất hết ý thức về ngày đêm…”
“…Cầu nguyện trở nên khó khăn, trí nhớ của anh bắt đầu sút kém. Ngay cả việc đọc một kinh “Lạy Cha” hay một kinh “Kính mừng Maria” cũng không đọc nổi và anh sợ mình bị điên. Anh liên tục thấy đói, khát và đau khắp người vì ẩm. Anh cố gắng không ăn quá nhiều hoặc uống nước vì hiếm khi anh được phép đi nhà vệ sinh, vì vậy sự đau đớn về thể xác tăng thêm” (Nguyễn Thị Thu Hồng & Stefaan Lecleir, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Chứng từ về cuộc đời, tổ quốc và lịch sử gia đình, tr. 93-97).
Sự đau đớn về thể xác dường như đã chạm đến giới hạn thể lý và tinh thần của con người Đức Cha Thuận, khiến ngài phải chống chọi với cơn cám dỗ của tuyệt vọng. Cuộc chiến đấu này thật khốc liệt. Trong nỗi đau khủng khiếp trên thập giá, chính Đức Giêsu cũng đã phải thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao nỡ bỏ con” (Lc 15,34). Trong những giây phút đau đớn tuyệt vọng, bị hành hạ thể lý trong trại tù Phú Khánh, Đức Cha Thuận cũng đã có lúc “cảm thấy bị Chúa bỏ rơi” (x. Nguyễn Thị Thu Hồng & Stefaan Lecleir, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Chứng từ về cuộc đời, tổ quốc và lịch sử gia đình, tr. 97).
Không chỉ bị hành hạ thể lý, Đức Cha Thuận còn bị hành hạ tinh thần với cách đối xử nhục nhã mà ngài phải chịu. Bà Elizabeth Thu Hồng kể lại: “…Trong nhiều ngày, không ai mở cửa phòng giam cho anh, vì vậy phòng giam cũng trở thành nhà vệ sinh. Rồi một nữ công nhân vệ sinh được gửi đến, cô ta như đang đối xử với anh từ trên cao: “Người ta gọi ông là giám mục mà ông ăn ở như con vật. Nhìn xem ông sống bẩn thỉu thế nào”. Cô ta xúc phạm anh và tạt nước vào anh, và tạt xuống đất. Trong những lúc đó anh bị đứng dưới cái nhìn của người phụ nữ thô lỗ ấy. Với tình huống tủi nhục như vậy, làm thế nào áp dụng lời khuyên của mẹ: “Chúng ta phải luôn sống dưới cái nhìn của Chúa?”. Hận thù đe dọa chiếm lấy anh. Trong văn hóa của chúng tôi, phẩm giá của một người gắn chặt với cách người ấy thể hiện mình với người khác. Trong nhiều tuần, anh tôi xấu hổ về chính mình: anh, một giám mục, thấy mình trong một tình huống nhục nhã như thế trước một nữ công nhân! Anh cũng không thể nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa trong người lân cận của mình. Anh dần dần nhận ra rằng anh đang ghét người phụ nữ đó, một người lấy làm vui mừng khi hạ nhục anh.
Anh kể với gia đình chúng tôi – không bao giờ với công chúng – rằng một hôm anh cảm thấy quá đau xót vì phải sống trong sự bẩn thỉu khủng khiếp, đến nỗi anh đã quỳ xuống và xin Chúa ban sức mạnh để chịu đựng cái nhìn của cô ta. Ngay khi anh đang ở tư thế ấy thì cô công nhân nhìn thấy anh. Thình lình, anh được can đảm nhìn vào mắt cô và nói: “Thưa cô, giữa cô và tôi không hề có hận thù. Cô làm nhiệm vụ của cô, còn tôi đã không chọn ở đây, ở trong sự bẩn thỉu kinh tởm này. Tôi là một tù nhân và cô, về phía cô, bị buộc phải làm công việc này. Cá nhân tôi không ghét cô, và tôi chắc chắn cô cũng không có gì chống lại tôi”. Ngay khi anh thốt ra được những lời này, một ánh sáng sâu thẳm bao trùm lấy anh, ánh sáng ấy cũng bao trùm người phụ nữ và anh tự nhủ: “Đó, đó chính là cái nhìn của Chúa”. Từ lúc ấy người phụ nữ nhìn anh bằng đôi mắt khác.” (Nguyễn Thị Thu Hồng & Stefaan Lecleir, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Chứng từ về cuộc đời, tổ quốc và lịch sử gia đình, tr. 97-98).
Trong nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng… Đức Cha Thuận cảm thấy mình bị mất tất cả: mất tự do, mất sức lực, mất lý trí, mất nhân phẩm, mất cả khả năng yêu thương…cuộc đời đi vào bế tắc, tuyệt vọng.
Thế rồi một đêm kia, ngài như nghe tiếng Chúa nói trong đầu: “Phanxicô, con còn giàu lắm, con còn tình yêu Chúa Kitô trong tim, hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu thương con”. Đức Cha Thuận nói rằng điều này đã chạm đến và chữa lành vết thương của ngài. Ngài đã học được cách nhìn của Thiên Chúa, đã thấy được Thiên Chúa nơi người lân cận. Ngài kể lại: “Ngày hôm sau tôi bắt đầu yêu Chúa Giêsu nơi họ hơn nữa, bằng cách cười nói trao đổi với họ vài câu thân tình... Dần dần chúng tôi trở thành bạn với nhau” (x. Năm Chiếc Bánh Và Hai Con Cá: Chiếc Bánh Thứ Năm)
Có người cho rằng, trong bối cảnh đất nước sau năm 1975, theo ước tính của các tổ chức quốc tế, có khoảng 200.000 đến 300.000 người phải sống trong các “trại cải tạo”, đâu phải chỉ mình Đức Cha Thuận!
Không thể phủ nhận hàng trăm ngàn người này đã phải sống trong những ngày tháng đen tối, bị đối xử bất công, chịu đói, chịu khát, chịu sự đối xử bất công, kỳ thị, chịu sự tra tấn tinh thần và thể xác… Những vết thương đó chưa bao giờ được chữa lành, và có thể sẽ không bao giờ được chữa lành. Bởi lẽ khi những người này bước ra khỏi những nhà tù, trại giam, chính là lúc họ bước vào một nhà tù khắc nghiệt hơn, dai dẳng hơn, đó là nhà tù của lòng hận thù, nơi mà nhiều người có thể phải ở suốt cả cuộc đời.
Điều này cũng dễ hiểu. Khi một con người phải trải qua những tháng ngày bị hành hạ thể lý và tinh thần, bị đối xử bất công, bị lừa dối, bị ghét bỏ, bởi chính đồng loại của mình, thì thường trái tim sẽ dần trở nên chai đá, bị xiềng xích khóa chặt, lý trí bị xâm chiếm bởi hận thù.
Đức Cha Thuận không như thế! Cuộc đời của ngài chính là sứ điệp của ngài, đó là dù phải trải qua bất cứ đau khổ thể lý và tinh thần nào, tình yêu thương và tha thứ là cốt lõi của đời sống người Kitô hữu, không có chọn lựa nào khác!
Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng đã kể lại: “…Sau khi cảm ơn ngài vì những lời tốt đẹp, tôi hỏi về cuộc đời của ngài – vốn đã trở nên khá nổi tiếng. Chúng tôi ngồi xuống, và ngài kể lại câu chuyện của mình. Khi đó là buổi chiều. Điều làm tôi xúc động là khi hồi tưởng lại những kinh nghiệm đau đớn và thậm chí tủi nhục, giọng nói của ngài vẫn bình thản, gương mặt vẫn thanh thản. Không có một chút cay đắng hay hận thù nào nơi ngài. Tôi không thể rời mắt khỏi gương mặt rạng rỡ và nụ cười của ngài.” (Trích bài phát biểu tại Hội thảo kỷ niệm 50 năm sách “Đường Hy Vọng” ra đời, ngày 25/3/2026 tại Rôma).
Nơi Đức Cha Thuận nhà tù có thể giam cầm thân xác nhưng không thể giam cầm tâm hồn ngài. Ngài không để đau khổ biến trái tim mình nên chai cứng, không để lý trí bị thống trị bởi thù hận. “Bí quyết của ngài là lòng tín thác bất khuất vào Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện và đau khổ được đón nhận trong tình yêu” (x. Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Bài giảng Lễ An táng).
Nơi Đức Cha Thuận, kinh nghiệm về Thiên Chúa không đến từ lý trí, nhưng đến từ con tim. Nó không đến từ đầu óc uyên bác kiệt xuất của Đức Cha Thuận, nhưng đến từ những trải nghiệm xuyên suốt trong cuộc đời mà nhà tù là giai đoạn để lại nhiều cảm xúc, nhiều kinh nghiệm nhất. Trong đêm tối của ngục tù, ngài đã cảm nếm sự ngọt ngào của Bí tích Thánh Thể. Mỗi ngày, với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, ngài cử hành thánh lễ, đón nhận những đau khổ, để được nên đồng hình đồng dạng với hy tế của Đức Kitô trên thập giá. Được nuôi dưỡng bằng Bí tích Thánh Thể, ngài gọi đó là “linh dược” chữa lành mọi vết thương thể xác và tâm hồn ngài. “Chỉ có tình yêu Chúa Kitô mới có thể thay đổi con tim: “Omnia vincit amor - Tình yêu chiến thắng mọi sự”. (Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chứng nhân hy vọng. Các bài giảng tĩnh tâm cho Đức Thánh Cha và Giáo triều Rôma, Vatican mùa Chay 12 - 18/03/2000).
Chính đời sống cầu nguyện và để mình chìm đắm trong Bí tích Thánh Thể, đỉnh cao của Tình Yêu Thiên Chúa qua mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh, đã mang lại sự bình an cho tâm hồn ngài, mở toang cánh cửa con tim, dẫn đưa Đức Cha Thuận đến đỉnh cao của Đức Ái: Sự Tha Thứ. Đây chính là đỉnh cao của sự tự do nội tâm: không xiềng xích nào có thể khóa chặt trái tim ngài trong hận thù, không nhà tù nào có thể cách ly được con tim của ngài khỏi tình mến Chúa và yêu người. Ở đây chúng ta có thể thấy được mối liên hệ sâu xa giữa mầu nhiệm Thánh Thể và sự tha thứ. Trong hy tế thập giá, Đức Giêsu Kitô dù bị tra tấn, bị nhục mạ, bị phản bội, bị đóng đinh trên thập giá vẫn cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Đức Cha Thuận đã được biến đổi nhờ hy tế thập giá. Ngài đã để cho mầu nhiệm Thánh Thể thấm sâu vào cách suy nghĩ, cách sống, cách phản ứng trước những thái độ thù địch đối với ngài.
Đức Cha Thuận kể lại: “Điều khó hiểu nhất đối với chiến sĩ gác tù, là thái độ tha thứ yêu thương địch thù của mình. Có hôm mấy anh gác hỏi tôi:
- Ông có thương chúng tôi không?
- Có chứ, tôi yêu thương các anh cách thành thực, không có gì là khách sáo đâu!
- Kể cả khi người ta giam ông, mất tự do, năm này sang năm khác? Không xét xử gì cả?
- Anh nghĩ lại bao nhiêu năm ở với nhau. Tôi làm sao giấu được. Tôi thực sự yêu thương các anh.
- Chừng nào được tự do anh có sai giáo dân của anh trả thù không?
- Không, tôi vẫn tiếp tục yêu thương, dù các anh có muốn giết tôi.
- Nhưng tại sao lại yêu kẻ thù hại anh?
- Vì Chúa Giêsu đã dạy tôi yêu thương; nếu tôi không tuân giữ, tôi không đáng gọi là Kitô hữu nữa” (x. Năm Chiếc Bánh Và Hai Con Cá. Chiếc Bánh Thứ Năm).
Có một ngộ nhận cần phải thay đổi. Khi Giáo hội tiến hành hồ sơ tuyên phong Thánh Đức HY PX Nguyễn Văn Thuận, được các Đức Giáo hoàng công nhận ngài là Chứng nhân đức tin với những nhân đức anh hùng, nhiều người suy nghĩ cách sai lầm rằng đó là do ngài đã trải qua những năm tháng trong tù. Thật ra không phải thế! Mười ba năm trong tù chỉ là một giai đoạn, một phần cuộc đời ngài. Ngài đã sống những nhân đức anh hùng từ thời còn niên thiếu, nhờ được giáo dục trong bầu khí đức tin, được thấm nhuần những tấm gương anh hùng của các bậc tổ tiên tử vì đạo, đã được nghe kể lại cách thức mà tổ tiên đã vượt qua các cuộc bách hại để giữ vững đức tin, để liên kết với nhau giúp họ hiệp nhất trong đức tin. Ngài hiểu rằng các tổ tiên tử vì đạo là tấm gương tuyệt hảo nhất về Đức Tin và Đức Mến. Những nhân đức này được khơi dậy nơi ngài qua những thử thách trong dòng lịch sử và của nhà tù. Không thể phủ nhận thời gian trong tù là thời gian ngài được biến đổi cách sâu xa nhất, nhưng đó chưa phải là bằng chứng để kết luận về một cuộc đời. Nói chính xác, Đức HY PX Nguyễn Văn Thuận đã sống những nhân đức anh hùng ngay từ thời niên thiếu cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời ngài. Giáo hội đánh giá và nhìn nhận những nhân đức anh hùng xét trong toàn bộ cuộc đời của ngài chứ không phải chỉ thời gian trong tù.
Bà Elizabeth Thu Hồng kể lại: “Khi ngài gần qua đời, tôi hỏi ngài: bây giờ cuối đời anh có cảm thấy đau khổ vì mình còn muốn làm bao nhiêu việc. Chúa gửi anh vào trong tù, anh mới ra khỏi tù làm được một số công việc thì ngài lại muốn gọi anh về, anh có khi nào cảm thấy bức xúc, muốn chất vấn Thiên Chúa là tại sao không? Ngài nói: Không đâu, qua tất cả những điều đó, Chúa cho mình biết tất cả những gì Ngài ban cho mình đều là của Ngài. Khi Ngài muốn mình về với Ngài thì Ngài sẽ tìm ra những con người khác. Anh là một cây bút chì của Ngài bây giờ bị mòn rồi, Ngài sẽ tìm một cây bút chì mới” (Nguyễn Thị Thu Hồng. Trả lời phỏng vấn tại Hội nghị “PX Nguyễn Văn Thuận – Chứng nhân của Hy vọng”. Rôma 25/3/2026).
Ðức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, trong thánh lễ an táng của Ðức Hồng y Phanxicô Xaviê đã gọi ngài là Chứng nhân Ðức Tin và là Chứng nhân Hy Vọng, đồng thời nêu bật Đức Ái khi nhắc lại những lời của Ðức Hồng y Thuận: "Trong vực thẳm của khổ đau, tôi không bao giờ ngừng yêu mến mọi người. Tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi" (Chứng nhân Hy vọng, Rôma 2001). Ðức Cố Giáo Hoàng cũng nhắc lại di chúc tinh thần của Ðức Cố Hồng y: "Tôi thanh thản ra đi và không giữ trong lòng bất cứ oán hận nào đối với ai. Tôi dâng tất cả những đau khổ đã trải qua cho Ðức Mẹ Vô Nhiễm và Thánh Giuse". Và Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II kết thúc bài giảng lễ: "Ðức tin đã xác tín cho chúng ta rằng Ðức Hồng y Phanxicô Xaviê đã không chết nhưng đã bước vào cuộc sống vĩnh hằng nơi mà mặt trời không bao giờ lặn" (Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II. Bài giảng Lễ An táng).
Trong tập sách Đường Hy Vọng viết tại nơi quản thúc Cây Vông, Nha Trang, Đức Cha Thuận đã viết: “Con phải nói được cách thành thực rằng: Tôi không xem ai là kẻ nghịch của tôi, kể cả những người căm thù tôi nhất, những người bắt bớ tôi, thề không đội trời chung với tôi. Tôi luôn luôn xem họ là anh em tôi" (ÐHV số 793).
“Sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thương” là câu nói nghe quá đơn giản, nhưng đó là kết tinh những trải nghiệm hết sức quý giá, của một cuộc đời dẫu qua bao phong ba bão táp vẫn một lòng trung tín với Thiên Chúa, bám chặt vào Thiên Chúa, “không ngừng khám phá sự hiện diện mới mẻ và dồi dào của Thiên Chúa” (Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Bài giảng Lễ An táng) qua các biến cố của cuộc đời.
Đức cố HY PX Nguyễn Văn Thuận đã để lại cho chúng ta “Bài Ca Đức Ái”, không phải được ký âm bằng những nốt nhạc; những giai điệu này, tạo nên những cung bậc trầm bổng giàu cảm xúc, được viết bằng những giây những phút đan xen trong cuộc đời ngài, bên cạnh những nốt trầm của cuộc nhân sinh là những âm thanh cao vút của đời sống nội tâm sáng ngời tình Chúa tình người: khi vui và những lúc u buồn; khi xuôi thuận và những lúc nghịch cảnh; khi đau khổ và những lúc hân hoan; khi tuyệt vọng và những lúc hy vọng; khi vinh quang và những lúc tủi nhục; khi thành công và những lúc thất bại; khi ốm đau và những lúc mạnh khỏe; khi còn sống và lúc đối diện với cái chết… Đó cũng là những gì thường xảy ra trong cuộc đời của chúng ta.
Vì thế, khi nhìn vào cuộc đời của Đấng Đáng kính Đức HY PX Nguyễn Văn Thuận, chúng ta thấy ngài đã để lại tấm gương sáng ngời về Đức Ái, là nhân đức trổi vượt trên mọi nhân đức. Sứ điệp của ngài mời gọi mỗi người đừng cố bám chặt vào quá khứ, nhưng hãy sống những giây phút hiện tại và lấp đầy những giây phút này bằng tình yêu thương. Tấm gương của ngài luôn phù hợp cho mọi thời đại. “Tấm gương của ngài mang tính thời sự sâu sắc, vì nhắc nhở rằng niềm hy vọng Kitô giáo phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô và được thể hiện trong một đời sống hiến dâng cho Thiên Chúa và tha nhân” (Đức Thánh Cha Lêô XIV. Sứ điệp gửi đến Hội nghị “PX Nguyễn Văn Thuận – Chứng nhân của Hy vọng”. Rôma 25/3/2026).
Cuộc đời của Đấng Đáng kính Đức HY PX Nguyễn Văn Thuận không phải là những câu chuyện để kể lại, để khen ngợi, nhưng là tấm gương để sống, là ánh sáng soi rọi cho thế giới, cho Giáo hội, và cho mỗi người chúng ta trong ơn gọi Kitô hữu của mình và trong hành trình tiến về Quê Trời.
(Lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, 12/6/2026)
Giuse Lê Văn Hùng HT69