Bộ Giáo lý Đức tin: Chế độ một vợ một chồng không phải là giới hạn, hôn nhân là một lời hứa vô tận
- Thứ bảy - 29/11/2025 08:57
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Ghi chú giáo thuyết “Một xương một thịt: Ca ngợi chế độ một vợ một chồng”, được công bố hôm thứ Ba, 25/11, khám phá giá trị của hôn nhân “như một sự kết hợp đơn hôn và sự thuộc về lẫn nhau”, một sự kết hợp trọn vẹn tôn trọng phẩm giá của người kia qua việc hoàn toàn trao hiến chính mình.
Bạo lực, dù là thể lý hay tâm lý, đều bị lên án: “Hôn nhân không phải là chiếm hữu”. Trong thời đại cá nhân chủ nghĩa và chủ nghĩa tiêu thụ, việc giáo dục giới trẻ về tình yêu như một trách nhiệm và về niềm hy vọng nơi người khác là điều thiết yếu.
“Sự kết hợp bất khả phân ly.” Đây là cách mà Ghi chú giáo thuyết của Bộ Giáo lý Đức tin (DDF) định nghĩa hôn nhân, tức là “một sự kết hợp đơn hôn và một sự thuộc về lẫn nhau.” Không phải ngẫu nhiên mà văn kiện này – được Đức Lêô XIV phê chuẩn vào ngày 21 tháng 11, lễ Đức Mẹ Dâng Mình vào Đền Thánh, và được công bố cho báo chí ngày 25 tháng 11 – có tựa đề “Una caro (Một xương một thịt). Ca ngợi chế độ một Vợ một chồng.” Văn kiện giải thích rằng chỉ có hai hữu thể mới có thể trao hiến trọn vẹn và hoàn toàn cho nhau; nếu không, đó sẽ là một sự trao hiến nửa vời, không tôn trọng phẩm giá của người phối ngẫu.
Động cơ của văn kiện
Ba động lực là nguồn gốc của văn kiện này: thứ nhất, Đức Hồng y Tổng trưởng Víctor Manuel Fernández viết trong phần giới thiệu, “điều thích hợp là phải quan tâm đến bối cảnh toàn cầu hiện nay của sự phát triển công nghệ”, vốn dẫn con người đến chỗ tự coi mình là “một thụ tạo không có giới hạn” và do đó, xa rời với giá trị của tình yêu đơn hôn chỉ dành riêng cho một người. Ngài cũng đề cập đến các cuộc thảo luận với các giám mục châu Phi về vấn đề đa thê, nhấn mạnh rằng “các nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa châu Phi” bác bỏ “quan điểm hiện hành” liên quan đến tính chất đặc hữu của hôn nhân một vợ một chồng. Cuối cùng, văn kiện ghi nhận sự trỗi dậy của “đa hôn” (polyamour) ở phương Tây, tức là các hình thức kết hợp công khai không theo chế độ một vợ một chồng.
Sự kết hợp hôn nhân và sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Giáo hội
Trong bối cảnh này, tài liệu của Bộ Giáo Lý Đức Tin muốn nhấn mạnh vẻ đẹp của sự kết hợp hôn nhân, “với sự trợ giúp của ân sủng”, cũng tượng trưng cho “sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hiền Thê yêu dấu của Người, là Giáo hội”. Đức Hồng y Fernández chỉ ra rằng, tài liệu này chủ yếu dành cho các Giám mục, và cũng nhằm mục đích giúp những người trẻ, các cặp đính hôn và các cặp vợ chồng nắm bắt được “sự phong phú” của hôn nhân Kitô giáo, từ đó khuyến khích “suy ngẫm thanh thản và nghiên cứu sâu xa” về chủ đề này.
Sự gắn kết dựa trên sự ưng thuận tự do
Được chia thành bảy chương, ngoài phần kết luận, văn kiện tái khẳng định rằng chế độ một vợ một chồng không phải là một giới hạn, mà là khả năng của một tình yêu kéo dài đến muôn đời. Hai yếu tố dường như mang tính quyết định: “sự thuộc về nhau và đức ái vợ chồng“. Sự thuộc về nhau, “dựa trên sự ưng thuận tự do” của cả hai vợ chồng, phản ánh sự hiệp thông Ba Ngôi và trở thành “một động lực mạnh mẽ cho sự kết hợp bền vững“. Đó là “sự thuộc về của trái tim, nơi chỉ mình Thiên Chúa nhìn thấy” và là nơi chỉ mình Ngài mới có thể bước vào, “mà không làm xáo trộn sự tự do và căn tính của con người“.
Đừng xâm phạm quyền tự do của người khác
Hiểu theo cách này, “sự thuộc về lẫn nhau vốn gắn liền với tình yêu đơn hôn hỗ tương hàm ý một sự quan tâm tinh tế, một nỗi sợ linh thiêng về việc xâm phạm quyền tự do của người khác, vốn sở hữu cùng phẩm giá và do đó có cùng những quyền lợi.” Bởi vì những người yêu thương biết rằng “tha nhân không thể là phương tiện để giải quyết những bất mãn của chính mình” và sự trống rỗng của chính mình không bao giờ được lấp đầy “bằng sự thống trị người khác“. Về vấn đề này, văn kiện lấy làm tiếc về “nhiều hình thức ham muốn không lành mạnh tạo ra nhiều biểu hiện bạo lực, rõ ràng hoặc ngấm ngầm, áp bức, áp lực tâm lý, kiểm soát, và cuối cùng là bóp nghẹt.” Điều này cấu thành “sự thiếu tôn trọng và kính trọng đối với phẩm giá của người khác.”
Hôn nhân không phải là chiếm hữu
Ngược lại, cái “hai chúng ta” lành mạnh hàm ý “sự tương hỗ của hai quyền tự do không bao giờ bị xâm phạm, nhưng lựa chọn lẫn nhau, luôn đặt ra một ranh giới không thể vượt qua“. Điều này xảy ra khi “một người không đánh mất chính mình trong mối quan hệ, không hòa trộn với người mình yêu”, do đó tôn trọng mọi tình yêu lành mạnh “vốn không bao giờ có ý định nuốt chửng người kia“. Về vấn đề này, văn kiện nhấn mạnh rằng đôi vợ chồng sẽ có thể “hiểu và chấp nhận” một khoảnh khắc suy ngẫm, một không gian riêng tư hoặc tự chủ mà một trong hai người yêu cầu, bởi vì “hôn nhân không phải là chiếm hữu“, đó không phải là “một đòi hỏi về sự yên tĩnh tuyệt đối“, cũng không phải là sự giải thoát hoàn toàn khỏi sự cô đơn (thực tế, chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy khoảng trống mà con người cảm thấy), nhưng là sự tin tưởng và khả năng đối mặt với những thách thức mới. Đồng thời, các đôi bạn được khuyến khích không nên từ chối nhau, bởi vì “khi khoảng cách trở nên quá thường xuyên, cái “hai chúng ta” có nguy cơ phai nhạt“. Tuy nhiên, một cuộc đối thoại chân thành sẽ giúp chữa lành những nguyên nhân sâu xa của sự xa cách lẫn nhau và tìm thấy sự cân bằng phù hợp.
Cầu nguyện, một phương tiện quý giá để lớn lên trong tình yêu
Sự thuộc về nhau cũng được thể hiện qua sự nâng đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng trên hành trình cá nhân: trong đó, cầu nguyện là một phương tiện quý giá để đôi bạn có thể thánh hóa bản thân và lớn lên trong tình yêu. Chính như thế mà đức ái vợ chồng được thể hiện, một sức mạnh của sự kết hợp yêu thương, chung thủy và trọn vẹn, một ân huệ thần linh được cầu xin trong lời cầu nguyện và được nuôi dưỡng bởi đời sống bí tích, và chính trong hôn nhân, trở thành tình bạn cao quý nhất giữa hai trái tim gần gũi và huynh đệ, những người yêu thương nhau và cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi ở bên nhau.
Tính dục và khả năng sinh sản
Nhờ sức mạnh biến đổi của đức ái, có thể hiểu tính dục “thể xác và tâm hồn”, không phải như một xung năng hay một lối thoát, nhưng như một món quà tuyệt vời của Thiên Chúa dẫn đến sự tự hiến và lợi ích của người khác, được đón nhận toàn vẹn họ. Đức ái trong hôn nhân cũng mở rộng đến khả năng sinh sản, “mà không phải vì thế sự sinh sản này phải là mục đích minh nhiên của mọi hành vi tình dục“. Ngược lại, hôn nhân vẫn giữ được tính chất thiết yếu của nó ngay cả khi không có con. Hơn nữa, tính chính đáng của việc tôn trọng các giai đoạn vô sinh tự nhiên đã được tái khẳng định.
Mạng xã hội và nhu cầu cấp thiết về một lối sư phạm mới
Tuy nhiên, “trong bối cảnh chủ nghĩa cá nhân tiêu thụ hậu hiện đại”, vốn phủ nhận mục đích thống nhất của tình dục và hôn nhân, làm thế nào duy trì khả năng của tình yêu chung thủy? Tài liệu khẳng định, câu trả lời nằm ở giáo dục: “Thế giới mạng xã hội, nơi sự thẹn thùng phai nhạt và bạo lực biểu tượng và tình dục lan tràn, cho thấy nhu cầu cấp thiết về một lối sư phạm mới.” Do đó, cần phải “chuẩn bị cho các thế hệ hiểu được kinh nghiệm về tình yêu như một mầu nhiệm nhân học”, trình bày tình yêu không chỉ là một xung động đơn thuần, mà là một lời kêu gọi trách nhiệm và “khả năng hy vọng vào con người trong sự toàn vẹn của họ.” Giáo dục về chế độ một vợ một chồng không phải là “chủ nghĩa cổ hủ” hay “sự ràng buộc về đạo đức”, mà là “một sự khởi đầu vào sự vĩ đại của một tình yêu vượt lên trên sự tức thời” và, một cách nào đó, báo trước “chính mầu nhiệm của Thiên Chúa”.
Quan tâm đến người nghèo: “Liều thuốc giải” cho tình trạng nội hôn
Đức ái gắn liền với hôn nhân cũng được thể hiện nơi những đôi bạn, thay vì khép kín chính mình nơi chủ nghĩa cá nhân, cùng dấn thân vào những dự án chung để “làm điều gì đó tốt đẹp cho cộng đồng và cho thế giới”, bởi vì “con người được hoàn thành trong mối quan hệ với tha nhân và với Thiên Chúa”. Ngược lại, cần gạt bỏ sự ích kỷ, tự mãn và tình trạng nội hôn, chẳng hạn, bằng cách thể hiện “ý thức xã hội” đặc trưng của các vợ chồng cùng nhau dấn thân vì công ích. Trọng tâm của cách tiếp cận này là sự quan tâm đến người nghèo mà, như Đức Lêô XIV đã khẳng định, là “một vấn đề gia đình” đối với các Kitô hữu, chứ không chỉ đơn thuần là một “vấn đề xã hội”.
Tình yêu vợ chồng như một lời hứa vô tận
Cuối cùng, Ghi chú giáo thuyết tái khẳng định rằng “mọi cuộc hôn nhân đích thực là một sự hợp nhất được tạo thành từ hai cá nhân, đòi hỏi một mối quan hệ mật thiết và sâu xa đến nỗi nó không thể được chia sẻ với người khác.” Do đó, từ hai đặc tính thiết yếu của mối dây hôn nhân – sự kết hợp và tính bất khả phân ly – đặc tính thứ nhất làm nền tảng cho đặc tính thứ hai: sự chung thủy chỉ có thể có được trên cơ sở một sự hiệp thông được lựa chọn và đổi mới. Chỉ bằng cách này, tình yêu vợ chồng mới trở thành một thực tại năng động, được mời gọi đến sự tăng trưởng và phát triển liên tục theo thời gian, trong một “lời hứa vô tận.”
Từ Sách Sáng thế đến Huấn quyền của các Giáo hoàng
Điều đáng chú ý là văn kiện cũng mở rộng về mặt thần học, triết học và thơ ca đối với chủ đề một vợ một chồng, khởi đi từ sách Sáng Thế chương 2 (“Cả hai sẽ nên một xương một thịt”) và tiếp tục với các Giáo Phụ, đặc biệt là thánh Augustinô, người đã mô tả vẻ đẹp của sự kết hợp hôn nhân là “bước đi cùng nhau, bên nhau”. Những tham chiếu đến các tuyên bố chính của Huấn quyền về chủ đề này cũng rất nhiều: từ Đức Lêô XIII, người đã liên kết việc bảo vệ chế độ một vợ một chồng với việc bảo vệ phẩm giá của phụ nữ, đến Đức Piô XI, tác giả của thông điệp Casti connubii. Người ta cũng tìm thấy ở đó nhiều trích dẫn từ Công đồng Vatican II, nhấn mạnh rằng tình yêu một vợ một chồng phản ánh “phẩm giá bình đẳng của mỗi người phối ngẫu”.
Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II
Những nguồn suy tư khác bén rễ nơi Thông điệp Humanae Vitae của Đức Phaolô VI, nhấn mạnh đến chiều kích sinh sản của hôn nhân, nhưng cũng cho thấy một chiều kích khác, không thể tách rời khỏi chiều kích đầu tiên: chiều kích kết hợp. Đức Gioan Phaolô II được nhớ đến với “lối thông diễn về sự trao hiến” của ngài: con người, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được tạo dựng để trao hiến chính mình cho người khác, và chỉ trong sự trao hiến này, con người mới thực sự hoàn thành ý nghĩa đích thực của sự hiện hữu của mình. Hơn nữa, vì Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, nam và nữ, nên “nhân loại, để giống Thiên Chúa, được quan niệm là một đôi bạn.“
Karol Wojtyła thời trẻ
Một số suy tư triết học của Karol Wojtyła thời trẻ cũng được lấy lại, chẳng hạn như “nguyên tắc nhân vị”, vốn đòi hỏi “đối xử với con người theo đúng bản thể của họ” chứ không phải “một đối tượng phục vụ người khác“, như trường hợp đa thê. Đồng thời, vị Giáo hoàng tương lai người Ba Lan bác bỏ luận điểm cứng nhắc giản lược tình dục trong hôn nhân chỉ vào mục đích sinh sản. Trái lại, ngài khẳng định rằng “có một niềm vui phù hợp” với cả sự kết hợp thể lý và phẩm giá của nhân vị. Bởi vì tha nhân có thể được yêu thương như một nhân vị và, “đồng thời, được khao khát”.
Đức Bênêđictô XVI và Đức Phanxicô
Nhiều trích dẫn cũng đề cập đến Thông điệp Deus caritas est và Tông huấn Amoris laetitia: Thông điệp Deus caritas est của Đức Bênêđictô XIV nhắc nhở rằng hôn nhân tập hợp và hoàn thành “sức mạnh bùng nổ của tình yêu, trong sự năng động độc hữu và cứu cánh của nó, không tìm cách làm suy yếu tự do của con người”, nhưng đúng hơn, “mở cuộc sống ra cho chân trời vĩnh cửu”. Chương IV trong Tông huấn của Đức Giáo hoàng Phanxicô đặc biệt thích đáng, với mô tả chi tiết về tình yêu và đức ái vợ chồng.
Đức Lêô XIV
Cuối cùng, Đức Lêô XIV được trích dẫn đặc biệt trong sứ điệp của ngài nhân kỷ niệm 10 năm ngày tuyên thánh cho Louis và Zélie Martin, cha mẹ của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Trong sứ điệp, ngài mô tả hai vợ chồng là “mẫu gương về lòng trung thành và quan tâm đến người khác; về lòng nhiệt thành và kiên trì trong đức tin; về việc giáo dục Kitô giáo cho con cái; về lòng quảng đại trong việc thực thi bác ái và công bằng xã hội; và cũng là mẫu gương về lòng tin tưởng trong thử thách.”
Một số triết gia thế kỷ XX
Văn kiện của Bộ Giáo lý Đức tin sau đó đề cập đến tư tưởng của một số triết gia thế kỷ XX, chẳng hạn như Emmanuel Levinas, người quan niệm sự kết hợp đơn hôn của hôn nhân như một cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt“, khẳng định sự thuộc về lẫn nhau và độc hữu, không thể chuyển giao bên ngoài “hai chúng ta“. Do đó, “chế độ đa thê, ngoại tình, hay đa hôn dựa trên ảo tưởng rằng cường độ của mối quan hệ được đo lường bằng sự liên tiếp của các khuôn mặt.” Về phần Jacques Maritain, ông được nhớ đến với quan niệm về tình yêu như “một sự trao hiến trọn vẹn và không thể hủy bỏ của người này dành cho người kia”, nhắm đến lợi ích của người kia cho đến sự kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa.
Ngôn ngữ thơ ca
Một chương riêng dành cho “ngôn ngữ thơ ca”: những câu thơ nổi tiếng của các tác giả như Whitman, Neruda, Montale, Tagore và Dickinson khám phá cảm thức thuộc về mà hai người trải nghiệm, một cảm thức có thể dường như trọn vẹn, bất khả xâm phạm và không thể chuyển giao. Bởi vì, cuối cùng, như thánh Augustinô đã nói: “Hãy cho tôi một trái tim yêu thương, và nó sẽ hiểu những gì tôi nói.”
Tý Linh (theo Isabelle Piro – Vatican News)
“Sự kết hợp bất khả phân ly.” Đây là cách mà Ghi chú giáo thuyết của Bộ Giáo lý Đức tin (DDF) định nghĩa hôn nhân, tức là “một sự kết hợp đơn hôn và một sự thuộc về lẫn nhau.” Không phải ngẫu nhiên mà văn kiện này – được Đức Lêô XIV phê chuẩn vào ngày 21 tháng 11, lễ Đức Mẹ Dâng Mình vào Đền Thánh, và được công bố cho báo chí ngày 25 tháng 11 – có tựa đề “Una caro (Một xương một thịt). Ca ngợi chế độ một Vợ một chồng.” Văn kiện giải thích rằng chỉ có hai hữu thể mới có thể trao hiến trọn vẹn và hoàn toàn cho nhau; nếu không, đó sẽ là một sự trao hiến nửa vời, không tôn trọng phẩm giá của người phối ngẫu.

Động cơ của văn kiện
Ba động lực là nguồn gốc của văn kiện này: thứ nhất, Đức Hồng y Tổng trưởng Víctor Manuel Fernández viết trong phần giới thiệu, “điều thích hợp là phải quan tâm đến bối cảnh toàn cầu hiện nay của sự phát triển công nghệ”, vốn dẫn con người đến chỗ tự coi mình là “một thụ tạo không có giới hạn” và do đó, xa rời với giá trị của tình yêu đơn hôn chỉ dành riêng cho một người. Ngài cũng đề cập đến các cuộc thảo luận với các giám mục châu Phi về vấn đề đa thê, nhấn mạnh rằng “các nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa châu Phi” bác bỏ “quan điểm hiện hành” liên quan đến tính chất đặc hữu của hôn nhân một vợ một chồng. Cuối cùng, văn kiện ghi nhận sự trỗi dậy của “đa hôn” (polyamour) ở phương Tây, tức là các hình thức kết hợp công khai không theo chế độ một vợ một chồng.
Sự kết hợp hôn nhân và sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Giáo hội
Trong bối cảnh này, tài liệu của Bộ Giáo Lý Đức Tin muốn nhấn mạnh vẻ đẹp của sự kết hợp hôn nhân, “với sự trợ giúp của ân sủng”, cũng tượng trưng cho “sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hiền Thê yêu dấu của Người, là Giáo hội”. Đức Hồng y Fernández chỉ ra rằng, tài liệu này chủ yếu dành cho các Giám mục, và cũng nhằm mục đích giúp những người trẻ, các cặp đính hôn và các cặp vợ chồng nắm bắt được “sự phong phú” của hôn nhân Kitô giáo, từ đó khuyến khích “suy ngẫm thanh thản và nghiên cứu sâu xa” về chủ đề này.
Sự gắn kết dựa trên sự ưng thuận tự do
Được chia thành bảy chương, ngoài phần kết luận, văn kiện tái khẳng định rằng chế độ một vợ một chồng không phải là một giới hạn, mà là khả năng của một tình yêu kéo dài đến muôn đời. Hai yếu tố dường như mang tính quyết định: “sự thuộc về nhau và đức ái vợ chồng“. Sự thuộc về nhau, “dựa trên sự ưng thuận tự do” của cả hai vợ chồng, phản ánh sự hiệp thông Ba Ngôi và trở thành “một động lực mạnh mẽ cho sự kết hợp bền vững“. Đó là “sự thuộc về của trái tim, nơi chỉ mình Thiên Chúa nhìn thấy” và là nơi chỉ mình Ngài mới có thể bước vào, “mà không làm xáo trộn sự tự do và căn tính của con người“.
Đừng xâm phạm quyền tự do của người khác
Hiểu theo cách này, “sự thuộc về lẫn nhau vốn gắn liền với tình yêu đơn hôn hỗ tương hàm ý một sự quan tâm tinh tế, một nỗi sợ linh thiêng về việc xâm phạm quyền tự do của người khác, vốn sở hữu cùng phẩm giá và do đó có cùng những quyền lợi.” Bởi vì những người yêu thương biết rằng “tha nhân không thể là phương tiện để giải quyết những bất mãn của chính mình” và sự trống rỗng của chính mình không bao giờ được lấp đầy “bằng sự thống trị người khác“. Về vấn đề này, văn kiện lấy làm tiếc về “nhiều hình thức ham muốn không lành mạnh tạo ra nhiều biểu hiện bạo lực, rõ ràng hoặc ngấm ngầm, áp bức, áp lực tâm lý, kiểm soát, và cuối cùng là bóp nghẹt.” Điều này cấu thành “sự thiếu tôn trọng và kính trọng đối với phẩm giá của người khác.”
Hôn nhân không phải là chiếm hữu
Ngược lại, cái “hai chúng ta” lành mạnh hàm ý “sự tương hỗ của hai quyền tự do không bao giờ bị xâm phạm, nhưng lựa chọn lẫn nhau, luôn đặt ra một ranh giới không thể vượt qua“. Điều này xảy ra khi “một người không đánh mất chính mình trong mối quan hệ, không hòa trộn với người mình yêu”, do đó tôn trọng mọi tình yêu lành mạnh “vốn không bao giờ có ý định nuốt chửng người kia“. Về vấn đề này, văn kiện nhấn mạnh rằng đôi vợ chồng sẽ có thể “hiểu và chấp nhận” một khoảnh khắc suy ngẫm, một không gian riêng tư hoặc tự chủ mà một trong hai người yêu cầu, bởi vì “hôn nhân không phải là chiếm hữu“, đó không phải là “một đòi hỏi về sự yên tĩnh tuyệt đối“, cũng không phải là sự giải thoát hoàn toàn khỏi sự cô đơn (thực tế, chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy khoảng trống mà con người cảm thấy), nhưng là sự tin tưởng và khả năng đối mặt với những thách thức mới. Đồng thời, các đôi bạn được khuyến khích không nên từ chối nhau, bởi vì “khi khoảng cách trở nên quá thường xuyên, cái “hai chúng ta” có nguy cơ phai nhạt“. Tuy nhiên, một cuộc đối thoại chân thành sẽ giúp chữa lành những nguyên nhân sâu xa của sự xa cách lẫn nhau và tìm thấy sự cân bằng phù hợp.
Cầu nguyện, một phương tiện quý giá để lớn lên trong tình yêu
Sự thuộc về nhau cũng được thể hiện qua sự nâng đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng trên hành trình cá nhân: trong đó, cầu nguyện là một phương tiện quý giá để đôi bạn có thể thánh hóa bản thân và lớn lên trong tình yêu. Chính như thế mà đức ái vợ chồng được thể hiện, một sức mạnh của sự kết hợp yêu thương, chung thủy và trọn vẹn, một ân huệ thần linh được cầu xin trong lời cầu nguyện và được nuôi dưỡng bởi đời sống bí tích, và chính trong hôn nhân, trở thành tình bạn cao quý nhất giữa hai trái tim gần gũi và huynh đệ, những người yêu thương nhau và cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi ở bên nhau.
Tính dục và khả năng sinh sản
Nhờ sức mạnh biến đổi của đức ái, có thể hiểu tính dục “thể xác và tâm hồn”, không phải như một xung năng hay một lối thoát, nhưng như một món quà tuyệt vời của Thiên Chúa dẫn đến sự tự hiến và lợi ích của người khác, được đón nhận toàn vẹn họ. Đức ái trong hôn nhân cũng mở rộng đến khả năng sinh sản, “mà không phải vì thế sự sinh sản này phải là mục đích minh nhiên của mọi hành vi tình dục“. Ngược lại, hôn nhân vẫn giữ được tính chất thiết yếu của nó ngay cả khi không có con. Hơn nữa, tính chính đáng của việc tôn trọng các giai đoạn vô sinh tự nhiên đã được tái khẳng định.
Mạng xã hội và nhu cầu cấp thiết về một lối sư phạm mới
Tuy nhiên, “trong bối cảnh chủ nghĩa cá nhân tiêu thụ hậu hiện đại”, vốn phủ nhận mục đích thống nhất của tình dục và hôn nhân, làm thế nào duy trì khả năng của tình yêu chung thủy? Tài liệu khẳng định, câu trả lời nằm ở giáo dục: “Thế giới mạng xã hội, nơi sự thẹn thùng phai nhạt và bạo lực biểu tượng và tình dục lan tràn, cho thấy nhu cầu cấp thiết về một lối sư phạm mới.” Do đó, cần phải “chuẩn bị cho các thế hệ hiểu được kinh nghiệm về tình yêu như một mầu nhiệm nhân học”, trình bày tình yêu không chỉ là một xung động đơn thuần, mà là một lời kêu gọi trách nhiệm và “khả năng hy vọng vào con người trong sự toàn vẹn của họ.” Giáo dục về chế độ một vợ một chồng không phải là “chủ nghĩa cổ hủ” hay “sự ràng buộc về đạo đức”, mà là “một sự khởi đầu vào sự vĩ đại của một tình yêu vượt lên trên sự tức thời” và, một cách nào đó, báo trước “chính mầu nhiệm của Thiên Chúa”.
Quan tâm đến người nghèo: “Liều thuốc giải” cho tình trạng nội hôn
Đức ái gắn liền với hôn nhân cũng được thể hiện nơi những đôi bạn, thay vì khép kín chính mình nơi chủ nghĩa cá nhân, cùng dấn thân vào những dự án chung để “làm điều gì đó tốt đẹp cho cộng đồng và cho thế giới”, bởi vì “con người được hoàn thành trong mối quan hệ với tha nhân và với Thiên Chúa”. Ngược lại, cần gạt bỏ sự ích kỷ, tự mãn và tình trạng nội hôn, chẳng hạn, bằng cách thể hiện “ý thức xã hội” đặc trưng của các vợ chồng cùng nhau dấn thân vì công ích. Trọng tâm của cách tiếp cận này là sự quan tâm đến người nghèo mà, như Đức Lêô XIV đã khẳng định, là “một vấn đề gia đình” đối với các Kitô hữu, chứ không chỉ đơn thuần là một “vấn đề xã hội”.
Tình yêu vợ chồng như một lời hứa vô tận
Cuối cùng, Ghi chú giáo thuyết tái khẳng định rằng “mọi cuộc hôn nhân đích thực là một sự hợp nhất được tạo thành từ hai cá nhân, đòi hỏi một mối quan hệ mật thiết và sâu xa đến nỗi nó không thể được chia sẻ với người khác.” Do đó, từ hai đặc tính thiết yếu của mối dây hôn nhân – sự kết hợp và tính bất khả phân ly – đặc tính thứ nhất làm nền tảng cho đặc tính thứ hai: sự chung thủy chỉ có thể có được trên cơ sở một sự hiệp thông được lựa chọn và đổi mới. Chỉ bằng cách này, tình yêu vợ chồng mới trở thành một thực tại năng động, được mời gọi đến sự tăng trưởng và phát triển liên tục theo thời gian, trong một “lời hứa vô tận.”
Từ Sách Sáng thế đến Huấn quyền của các Giáo hoàng
Điều đáng chú ý là văn kiện cũng mở rộng về mặt thần học, triết học và thơ ca đối với chủ đề một vợ một chồng, khởi đi từ sách Sáng Thế chương 2 (“Cả hai sẽ nên một xương một thịt”) và tiếp tục với các Giáo Phụ, đặc biệt là thánh Augustinô, người đã mô tả vẻ đẹp của sự kết hợp hôn nhân là “bước đi cùng nhau, bên nhau”. Những tham chiếu đến các tuyên bố chính của Huấn quyền về chủ đề này cũng rất nhiều: từ Đức Lêô XIII, người đã liên kết việc bảo vệ chế độ một vợ một chồng với việc bảo vệ phẩm giá của phụ nữ, đến Đức Piô XI, tác giả của thông điệp Casti connubii. Người ta cũng tìm thấy ở đó nhiều trích dẫn từ Công đồng Vatican II, nhấn mạnh rằng tình yêu một vợ một chồng phản ánh “phẩm giá bình đẳng của mỗi người phối ngẫu”.
Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II
Những nguồn suy tư khác bén rễ nơi Thông điệp Humanae Vitae của Đức Phaolô VI, nhấn mạnh đến chiều kích sinh sản của hôn nhân, nhưng cũng cho thấy một chiều kích khác, không thể tách rời khỏi chiều kích đầu tiên: chiều kích kết hợp. Đức Gioan Phaolô II được nhớ đến với “lối thông diễn về sự trao hiến” của ngài: con người, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được tạo dựng để trao hiến chính mình cho người khác, và chỉ trong sự trao hiến này, con người mới thực sự hoàn thành ý nghĩa đích thực của sự hiện hữu của mình. Hơn nữa, vì Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, nam và nữ, nên “nhân loại, để giống Thiên Chúa, được quan niệm là một đôi bạn.“
Karol Wojtyła thời trẻ
Một số suy tư triết học của Karol Wojtyła thời trẻ cũng được lấy lại, chẳng hạn như “nguyên tắc nhân vị”, vốn đòi hỏi “đối xử với con người theo đúng bản thể của họ” chứ không phải “một đối tượng phục vụ người khác“, như trường hợp đa thê. Đồng thời, vị Giáo hoàng tương lai người Ba Lan bác bỏ luận điểm cứng nhắc giản lược tình dục trong hôn nhân chỉ vào mục đích sinh sản. Trái lại, ngài khẳng định rằng “có một niềm vui phù hợp” với cả sự kết hợp thể lý và phẩm giá của nhân vị. Bởi vì tha nhân có thể được yêu thương như một nhân vị và, “đồng thời, được khao khát”.
Đức Bênêđictô XVI và Đức Phanxicô
Nhiều trích dẫn cũng đề cập đến Thông điệp Deus caritas est và Tông huấn Amoris laetitia: Thông điệp Deus caritas est của Đức Bênêđictô XIV nhắc nhở rằng hôn nhân tập hợp và hoàn thành “sức mạnh bùng nổ của tình yêu, trong sự năng động độc hữu và cứu cánh của nó, không tìm cách làm suy yếu tự do của con người”, nhưng đúng hơn, “mở cuộc sống ra cho chân trời vĩnh cửu”. Chương IV trong Tông huấn của Đức Giáo hoàng Phanxicô đặc biệt thích đáng, với mô tả chi tiết về tình yêu và đức ái vợ chồng.
Đức Lêô XIV
Cuối cùng, Đức Lêô XIV được trích dẫn đặc biệt trong sứ điệp của ngài nhân kỷ niệm 10 năm ngày tuyên thánh cho Louis và Zélie Martin, cha mẹ của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Trong sứ điệp, ngài mô tả hai vợ chồng là “mẫu gương về lòng trung thành và quan tâm đến người khác; về lòng nhiệt thành và kiên trì trong đức tin; về việc giáo dục Kitô giáo cho con cái; về lòng quảng đại trong việc thực thi bác ái và công bằng xã hội; và cũng là mẫu gương về lòng tin tưởng trong thử thách.”
Một số triết gia thế kỷ XX
Văn kiện của Bộ Giáo lý Đức tin sau đó đề cập đến tư tưởng của một số triết gia thế kỷ XX, chẳng hạn như Emmanuel Levinas, người quan niệm sự kết hợp đơn hôn của hôn nhân như một cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt“, khẳng định sự thuộc về lẫn nhau và độc hữu, không thể chuyển giao bên ngoài “hai chúng ta“. Do đó, “chế độ đa thê, ngoại tình, hay đa hôn dựa trên ảo tưởng rằng cường độ của mối quan hệ được đo lường bằng sự liên tiếp của các khuôn mặt.” Về phần Jacques Maritain, ông được nhớ đến với quan niệm về tình yêu như “một sự trao hiến trọn vẹn và không thể hủy bỏ của người này dành cho người kia”, nhắm đến lợi ích của người kia cho đến sự kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa.
Ngôn ngữ thơ ca
Một chương riêng dành cho “ngôn ngữ thơ ca”: những câu thơ nổi tiếng của các tác giả như Whitman, Neruda, Montale, Tagore và Dickinson khám phá cảm thức thuộc về mà hai người trải nghiệm, một cảm thức có thể dường như trọn vẹn, bất khả xâm phạm và không thể chuyển giao. Bởi vì, cuối cùng, như thánh Augustinô đã nói: “Hãy cho tôi một trái tim yêu thương, và nó sẽ hiểu những gì tôi nói.”
Tý Linh (theo Isabelle Piro – Vatican News)