Thánh lễ Giỗ lần thứ 24 Đức HY PX Nguyễn Văn Thuận tại Roma
- Chủ nhật - 27/09/2026 10:38
- In ra
- Đóng cửa sổ này

Thánh lễ tại Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện kỷ niệm 24 năm ngày Đức Hồng y Phanxicô-Xaviê Nguyễn Văn Thuận qua đời
“Nếu có một điều chúng ta có thể học được từ câu chuyện cuộc đời của con người này, thì đó là: bất chấp những giới hạn khiến ngài không thể thực thi sứ vụ của mình, ngài vẫn tìm được con đường tình yêu cao cả nhất; con đường ấy giúp ngài sống những năm tháng đó không đơn thuần như một thời gian chờ đợi điều gì đó sẽ xảy đến, nhưng như một thời gian Đức Kitô đến viếng thăm ngài.”
Nhân kỷ niệm 24 năm ngày Đấng Đáng kính Đức Hồng y Phanxicô-Xaviê Nguyễn Văn Thuận qua đời, Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện đã quy tụ để tưởng niệm vị Hồng y Việt Nam bằng việc cử hành Thánh lễ, do Đức ông Christian Barone chủ sự và giảng lễ.

Đức ông Barone dựa vào các bài đọc trong ngày—đặc biệt là Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 7,31-35) và Thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (1 Cr 12,31–13,13)—những bài đọc gợi lên cho chúng ta câu hỏi: “Chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa ở đâu? Những dấu chỉ nào giúp chúng ta nhận biết hoạt động của Người trong cuộc đời mình?”
Đức ông Barone nhấn mạnh một “nghịch lý đáng chú ý: người ta có thể nhận ra Thiên Chúa nơi tính phi thường của một đặc sủng, nhưng lại không nhận ra điều mà sự hiện diện của Người đòi hỏi trong thực tại cụ thể của một tương quan. Người ta có thể cử hành Mình Đức Kitô, nhưng đồng thời lại làm tổn thương chính Thân Thể ấy qua những chia rẽ trong cộng đoàn.”
Đức ông Barone nhận xét: “Một ân huệ của Chúa Thánh Thần thực sự đích thực khi xây dựng Thân Thể Đức Kitô, khi thúc đẩy sự hiệp thông.” Thật vậy, các đặc sủng là những phương thế: “Chúng có giá trị trong mức độ chúng dẫn đến việc xây dựng cộng đoàn và nhờ đó trở thành những khí cụ của tình yêu.”
Chính trong ánh sáng này—Đức ông Barone giải thích—chúng ta có thể hiểu hành trình nhân bản và thiêng liêng của Đức Hồng y Phanxicô-Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Năm 1975, khi mới được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Phó Sài Gòn, Đức cha Văn Thuận bị bắt và phải trải qua mười ba năm trong tù, trong đó có chín năm biệt giam:
“Trước mặt ngài là một giáo phận, một đoàn dân được trao phó cho ngài, những chương trình mục vụ, những khát vọng và trách nhiệm. Đột nhiên, tất cả những điều ấy trở nên bất khả thi. [...] Ngài không thể điều hành Giáo Hội của mình, không thể giảng dạy cho đoàn dân, không thể thăm viếng các cộng đoàn, cũng không thể thực hiện những gì ngài đã dự định. Tất cả những gì ngài tin là con đường cụ thể để phục vụ Thiên Chúa đều bị lấy đi.”
Chính trong nỗi đau vì không thể thực thi sứ vụ và sử dụng những ân huệ Chúa ban, Đức cha Văn Thuận nhận ra rằng “‘con đường cao cả nhất’ vẫn còn rộng mở: khả năng sống thời gian ấy trong đức ái.”
Đức ái này được nuôi dưỡng bằng Bí tích Thánh Thể, được ngài cử hành trên lòng bàn tay, với ba giọt rượu và một giọt nước, cùng một vài bánh thánh được giấu trong chiếc đèn pin.

Đức ông Barone nhận xét: “Hình ảnh ấy đơn sơ đến mức gây ấn tượng mạnh. Ngài không còn ở trong nhà thờ chính tòa, không có bàn thờ, không có cộng đoàn trước mặt—những người được trao phó cho sự chăm sóc mục vụ của ngài. Ngài chỉ có lòng bàn tay của mình. Thế nhưng, ngay tại đó, ngài nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô.”
Đặc sủng ấy đã sinh hoa trái hiệp nhất: “Theo thời gian, những tù nhân khác quy tụ quanh Bí tích Thánh Thể ấy. Bánh đã được truyền phép được chuyền từ người tù này sang người tù khác; ban đêm, bánh được gìn giữ an toàn và tôn thờ. Giữa một hoàn cảnh được sắp đặt nhằm cô lập con người với nhau, một sự hiệp thông dần dần được hình thành. [...] Chung quanh Bí tích Thánh Thể ấy, con đường bình thường của đức ái bắt đầu tái thiết sự hiệp thông và làm cho Thân Thể Đức Kitô trở nên hữu hình.”
Đức cha Văn Thuận đã nhận ra rằng “ngay cả nơi ấy—một nơi ngài không hề lựa chọn—cũng có thể trở thành một không gian để gặp gỡ Đức Kitô và yêu thương những người được trao phó cho ngài.”
Đức ông Barone kết thúc bài giảng: “Con đường hy vọng mà ngài thường nói đến cũng bắt nguồn từ khám phá này: niềm hy vọng Kitô giáo không chỉ đơn thuần là chờ đợi một tương lai khác; niềm hy vọng phát sinh từ khả năng sống giây phút hiện tại cùng với Đức Kitô.”