Cựu Chủng Sinh Huế

http://www.cuucshuehn.net


Từ người ngoài đạo đến người thầy của các giám mục

Đối với tôi, vẻ đẹp sâu hơn nằm ở hướng chuyển động của Tin Mừng: thầy đã nhận một ơn mà gia đình không tự động truyền lại cho mình, rồi đem trí tuệ, thời giờ và cuộc đời để trao điều tốt lành cho người khác. Trong số những người được thầy trao tặng có những vị mang trách nhiệm rất lớn đối với Hội Thánh.

Nhớ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương (1925–2026)

Có một điều thật đẹp trong cuộc đời thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương mà tôi muốn ngồi lại thật lâu để suy nghĩ: thầy sinh ra trong một gia đình không theo Công giáo, lớn lên giữa nền nếp Nho học, đã đi qua nhiều con đường tìm kiếm, rồi tự do đón nhận đức tin Công giáo. Sau đó, người tân tòng ấy lại trở thành thầy của nhiều thế hệ tu sĩ, linh mục và cả giám mục. Tôi không muốn kể điều này như một sự đổi ngôi ngoạn mục, càng không muốn dùng cuộc đời thầy làm bằng chứng rằng người có đạo thì hơn người không có đạo. Điều đánh động tôi là đường đi của ân sủng: một người trước kia phải được dẫn vào nhà thờ để học biết Đức Kitô, về sau được Chúa dùng để giúp đào tạo những người sẽ giảng dạy, thánh hóa và chăn dắt Dân Người. Từ một người học đạo thành người thầy của những mục tử. Chỉ một câu ấy thôi đã đủ để tôi thấy lòng mình lắng xuống. 

Thầy Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 tháng 9 năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình khoa bảng. Thân phụ là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm; anh trai thầy là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, một trí thức nổi tiếng của Việt Nam. Đó là một gia đình có truyền thống học hành, suy nghĩ và dấn thân vào đời sống xã hội, nhưng không phải một gia đình Công giáo trao sẵn cho thầy kinh bổn, nếp đi lễ hay một con đường tu trì. Người anh nổi tiếng Nguyễn Khắc Viện không theo đức tin Công giáo như người em. Khi đặt hai anh em cạnh nhau, tôi thấy trước hết là hai con người có lịch sử và lựa chọn lương tâm riêng. Tôi kính trọng bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong phần đời và công việc của bác sĩ, và tôi muốn kể hành trình của thầy Dương mà không biến khác biệt đức tin giữa hai anh em thành một cuộc hơn thua. Chính trong một mái nhà có những hướng đi khác nhau, quyết định theo Chúa của thầy càng hiện lên như một lời đáp cá nhân, không thể giải thích đơn giản bằng thói quen gia đình. 

Thầy đã không lớn lên để mặc nhiên nói: “Nhà tôi có đạo nên tôi có đạo.” Thầy phải hỏi. Phải quan sát. Phải bước tới. Phải chấp nhận rằng một ngày nào đó con đường mình chọn sẽ khác con đường quen thuộc của gia đình. Tôi hình dung một người trẻ đứng trước ngưỡng cửa đức tin, bên trong có sức hút mạnh mẽ nhưng cũng có nhiều điều chưa hiểu. Người ấy đã thừa hưởng một gia phong đáng quý; theo Đức Kitô không đòi thầy phủ nhận lòng biết ơn đối với cha mẹ, với truyền thống dân tộc hay với người anh của mình. Đức tin được đón nhận bằng tự do càng đòi một lòng trung thực sâu xa: tôi đến với Chúa vì điều gì? Tôi có thực sự tin nơi Người, hay chỉ bị cuốn hút bởi một môi trường, một vài con người, một giây phút xúc động? Những câu hỏi đó không làm cho cuộc trở lại của thầy kém đẹp. Chúng cho thấy đức tin của một người trưởng thành phải đi qua cả trí khôn, tự do và cuộc sống của người ấy.

Thầy đã học tại trường Thiên Hựu ở Huế, tiếp xúc với môi trường giáo dục Công giáo; có giai đoạn trọ học tại chùa Linh Quang và học hỏi nơi các vị cao tăng. Thầy không bước tới giếng rửa tội như người chưa từng gặp một truyền thống tinh thần nào khác. Thầy đi tới đó với ký ức Nho học của gia đình, với những điều đã quan sát trong Phật giáo, với trí khôn quen tìm hiểu, với trái tim chưa bằng lòng sống hời hợt. Ngày 9 tháng 1 năm 1949, tại giáo xứ Nghĩa Yên thuộc Giáo phận Vinh, Nguyễn Khắc Dương lãnh nhận Bí tích Rửa tội và mang tên thánh Stêphanô. Trên giấy tờ, một ngày là đủ để ghi lại biến cố. Trong lòng người, con đường đến ngày ấy hẳn dài hơn rất nhiều. 

Tôi muốn dừng ở hình ảnh người tân tòng Stêphanô. Hôm ấy, thầy bước vào Hội Thánh qua cùng một cửa mà mọi Kitô hữu bước vào: nước Rửa tội, lời tuyên xưng đức tin và ân sủng của Thiên Chúa. Không ai lúc ấy cần đoán trước rằng người vừa được rửa tội sẽ giảng dạy cho bao nhiêu chủng sinh, rằng có những học trò của thầy về sau trở thành linh mục, tu sĩ, giám mục. Trước tiên, thầy là một người được Chúa gọi bằng tên. Trước tiên, thầy phải học cầu nguyện, học sống trong cộng đoàn, học đặt đời mình dưới ánh sáng Tin Mừng. Tôi thấy điều này rất quan trọng. Khi tưởng niệm người nổi tiếng, ta dễ đọc ngược đời họ từ thành tựu sau cùng và quên đi những bước đầu nhỏ bé. Nhưng Chúa không đợi thầy có lớp học, có học trò, có danh tiếng rồi mới yêu thầy. Ơn Rửa tội đến trước mọi danh xưng mà người đời trao. Thầy đã là con Thiên Chúa trước khi là thầy của những người sẽ trở thành mục tử.

Rồi chính ở đây, câu chuyện bắt đầu mang một vẻ đẹp đặc biệt thuật lại Thánh lễ tạ ơn mừng thầy 95 tuổi năm 2020, xác nhận rõ rằng nhiều tu sĩ, linh mục và ngay cả giám mục là môn sinh của thầy. Chia sẻ ấy cũng nói đến việc thầy giảng dạy tại đại học, học viện và chủng viện, đồng thời nhận định gia tài thầy để lại gồm cả tri thức lẫn chứng tá đức tin. Đây là chi tiết đã được ghi nhận công khai, chứ không chỉ là một lời tán tụng truyền miệng. Chúng ta chưa được đọc danh sách đầy đủ các đức cha từng học thầy, nên tôi không gán tên hay số lượng cụ thể cho điều chưa được kiểm chứng. Nhưng điều đã được xác nhận tự nó đủ mạnh: người từng ở ngoài Hội Thánh đã trở thành người thầy góp phần đào tạo nhiều người phục vụ Hội Thánh, trong đó có các giám mục. 

Chắc chúng ta còn nhớ có những đức cha đã từng là học trò của một người tân tòng. Ngày nay, khi gặp một giám mục trong phẩm phục, ta nhìn thấy trách nhiệm mục tử nặng nề mà Hội Thánh trao cho ngài. Nhưng đức cha ấy cũng từng là một người học trò: từng ngồi nghe, ghi chép, thắc mắc, có khi bị một câu hỏi của thầy làm cho mất đi sự yên ổn quá dễ dãi trong suy nghĩ. Người ta thấy chiếc mũ giám mục ở chặng sau của cuộc đời; Thiên Chúa còn thấy những giờ một con người âm thầm được chuẩn bị để mang trách nhiệm ấy. Trong những giờ chuẩn bị đó, Chúa có thể dùng một giáo sư không có chức thánh. Chúa có thể dùng một người đã từng phải học những điều căn bản của đức tin từ đầu. Đây là điều khiến tôi xúc động hơn mọi lời ca ngợi về sự uyên bác của thầy.

Một giám mục được truyền chức không phải vì đã học với thầy Nguyễn Khắc Dương. Ơn gọi và sứ vụ giám mục đến từ Đức Kitô qua đời sống Hội Thánh. Nhưng trên con đường một người được đào tạo để thi hành sứ vụ ấy, có dấu tay của nhiều người: cha mẹ, giáo lý viên, các cha xứ, các nhà đào tạo, những người nghèo họ gặp, các bạn đồng hành và những vị thầy đã dạy họ suy nghĩ. Thầy Dương thuộc về phần âm thầm ấy. Không phải cứ giảng một bài triết học là tạo ra một vị giám mục. Nhưng một người thầy có thể giúp người học nhìn con người với chiều sâu hơn, nhận ra những giới hạn trong lối suy luận của mình, biết kính trọng lương tâm, biết đặt câu hỏi trước khi vội đưa ra phán quyết. Những phẩm chất ấy, khi đi vào trái tim một mục tử, có thể ảnh hưởng đến cách mục tử ấy lắng nghe và phục vụ Dân Chúa. Đó là điều tôi suy niệm từ vai trò người thầy của thầy, chứ không phải một lời khẳng định rằng ta đo được ảnh hưởng riêng của thầy nơi từng đức cha.

Tôi nghĩ tới nét đẹp của một lớp học chủng viện. Trong lớp có những người trẻ đang tập sống đời linh mục. Họ chưa biết hết những giáo xứ, con người, nỗi đau và trách nhiệm đang đợi mình. Trước mặt họ là thầy Nguyễn Khắc Dương, một người đã từng phải tự mình đi tìm đường vào Công giáo. Thầy có thể giảng triết, giảng về văn hóa, về con người, về các câu hỏi nền tảng của đời sống. Nhưng ngoài nội dung môn học, chính sự hiện diện của thầy đã mang một bài học khác: đừng coi đức tin là vật sở hữu hiển nhiên. Người sinh trong gia đình Công giáo có thể quen với lời kinh đến mức quên sự lạ lùng của nó. Một người đã chủ động tìm đến đức tin có thể giúp ta nghe lại những lời ấy như lần đầu. Thầy không cần liên tục kể chuyện mình trở lại đạo để dạy bài học đó. Cuộc đời thầy đã đứng cùng thầy trong lớp.

Có một nghịch lý dịu dàng nơi đây: những người chuẩn bị trở thành linh mục, rồi có người trở thành giám mục, học nơi một người giáo dân về những chiều sâu của trí tuệ và đức tin. Hội Thánh không nghèo đi khi các mục tử biết học nơi giáo dân. Hội Thánh trưởng thành hơn khi nhận ra Thánh Thần ban ân huệ cho các thành phần trong cùng một thân thể. Một linh mục có thể ban Bí tích Giải tội cho thầy; thầy có thể giúp vị linh mục ấy suy nghĩ rõ hơn về con người đang đến xưng tội. Một giám mục có bổn phận gìn giữ và giảng dạy đức tin của Hội Thánh; trước đó, đức cha cũng đã có thể là học trò của một người giáo dân biết yêu chân lý. Những tương quan ấy không làm lẫn lộn sứ vụ của mỗi người. Chúng nhắc ta rằng không ai trong Hội Thánh chỉ biết cho mà không cần nhận.

Bởi vậy, điều nổi bật trong cuộc đời thầy không chỉ là cụm từ “thầy của nhiều giám mục”, dù tôi hiểu vì sao cụm từ ấy khiến chúng ta cảm phục. Nếu chỉ nhấn rằng học trò thầy về sau giữ chức vụ cao, ta có nguy cơ vô tình đo giá trị thầy bằng địa vị của học trò. Đối với tôi, vẻ đẹp sâu hơn nằm ở hướng chuyển động của Tin Mừng: thầy đã nhận một ơn mà gia đình không tự động truyền lại cho mình, rồi đem trí tuệ, thời giờ và cuộc đời để trao điều tốt lành cho người khác. Trong số những người được thầy trao tặng có những vị mang trách nhiệm rất lớn đối với Hội Thánh. Nhưng cả người học trò không trở thành giám mục, linh mục hay tu sĩ cũng quý giá như thế. Một người thầy chân chính không chỉ dạy cho người sẽ lên chức cao. Thầy dạy con người đang ngồi trước mặt mình.

Con đó những ghi nhận một lời đánh giá rất đáng suy ngẫm: gia tài thầy để lại còn là chứng tá đức tin và tình yêu thầy dành cho Chúa, cho Hội Thánh. Điều đó giải thích vì sao một người có thể được nhớ vượt khỏi những giáo trình. Nếu học trò chỉ nhận nơi thầy vài định nghĩa, khi qua kỳ thi họ có thể quên. Nếu họ nhận ra ở thầy một con người sống điều mình đang tìm hiểu, ký ức ấy đi theo họ lâu hơn. Tôi nghĩ một chủng sinh học về con người sẽ được đánh động khác đi khi trước mặt mình là người thầy biết tôn trọng từng người. Một linh mục trẻ học về sự thật sẽ hiểu khác đi nếu người dạy không sợ thú nhận giới hạn của chính mình. Một giám mục tương lai có thể được nhắc nhớ rằng quyền bính của người mục tử phải luôn biết cúi xuống lắng nghe. Tôi nói “có thể”, vì không ai ngoài những học trò ấy kể thay được kinh nghiệm riêng của họ; nhưng đó là hoa trái mà một người thầy như thầy Dương mời chúng ta nghĩ tới. 

Người ta vẫn gọi thầy là “giáo sư”. Nhiều người lưu ý một phân biệt cần giữ cho đúng: thầy không được Nhà nước phong học hàm giáo sư và không có học vị tiến sĩ như một số nơi ghi nhầm; thầy có bằng cử nhân tại Sorbonne, từng đảm nhiệm công việc lãnh đạo và giảng dạy ở Đại học Đà Lạt, và học trò kính trọng gọi thầy là giáo sư, là thầy. Tôi càng quý chữ thầy khi biết điều ấy. Học hàm là một ghi nhận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Tiếng “thầy” mà nhiều lớp môn sinh tiếp tục gọi sau bao thập niên là một sự ghi nhận của ký ức và lòng biết ơn. Thầy được gọi là thầy bởi những người đã học thầy; có những người trong số ấy về sau mang trách nhiệm giám mục. Danh xưng giản dị đó không cần được tô đậm bằng một học vị thầy không có. 

Hẳn chúng ta còn nhớ thầy muốn gần với sinh viên như người đồng hành hơn là đứng xa họ trên bục cao; thầy trò còn gặp nhau ngoài giờ học, ở những nơi rất đời thường. Đó là một chi tiết khiến bức chân dung “thầy của các giám mục” trở nên ấm áp. Các đức cha, linh mục, tu sĩ đã từng học với một con người bằng xương bằng thịt, người có thể trò chuyện với học trò bên một bữa ăn hay ly cà phê, chứ không phải một pho tượng triết học đặt giữa giảng đường. Đức tin đi vào đời người qua những tương quan như thế. Ta có thể quên nhan đề một bài giảng, nhưng nhớ lâu cảm giác được một người thầy xem mình là người đáng được lắng nghe. 

Đâu đó còn ghi lại lời một học trò nhớ về thầy: khi không được dạy học trong lớp như trước, thầy vẫn tìm đến từng người, giúp người thiếu thốn, tặng sách cho người muốn học và lắng nghe người đau khổ. Tôi nghĩ đây là phần không thể tách khỏi chuyện thầy đào tạo mục tử. Bài học về mục vụ không chỉ nằm trong một giờ lên lớp. Người sẽ trở thành linh mục có thể học nơi một người giáo dân cách không bỏ mặc người đang gặp khó khăn. Người sẽ trở thành giám mục có thể học từ một vị thầy không có quyền cai quản ai nhưng vẫn biết mang nỗi lo của người khác trong lòng. Tôi không biết học trò nào đã mang theo bài học cụ thể nào của thầy; những ký ức được công bố chỉ cho phép ta nói rằng thầy đã được nhớ như người đồng hành, trao tặng và lắng nghe. Chừng ấy đã là một chứng tá mạnh. 

Câu chuyện giữa bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và thầy Nguyễn Khắc Dương cũng mời chúng ta nghĩ sâu hơn về việc tôn trọng tự do lương tâm. Hai anh em cùng lớn lên từ một gia đình giàu vốn học vấn. Một người được biết đến rộng rãi qua y học, văn hóa và đời sống trí thức ngoài Công giáo. Một người đi tới đức tin Công giáo, rồi dành rất nhiều năm góp phần vào việc đào tạo trong Hội Thánh. Tôi không cần làm cho người anh nhỏ đi để thấy ơn Chúa nơi người em. Ta có thể kính trọng những đóng góp của một người không cùng niềm tin với mình và vẫn vui mừng sâu sắc trước hành trình theo Đức Kitô của thầy Dương. Chính thái độ ấy phù hợp với điều đẹp nhất trong đời thầy: thầy đã đi qua nhiều môi trường tư tưởng, đã biết lắng nghe, rồi tự do đáp lại tiếng gọi mà thầy nhận ra. Một bài viết về đức tin của thầy sẽ nghèo đi nếu nó biến người anh thành nhân vật đối lập để làm nền. Đức tin không cần một người thân bị hạ thấp mới trở nên sáng.

Tôi cũng tự hỏi: nếu hôm nay một người trẻ xuất thân từ gia đình ngoài Công giáo đến với giáo xứ, chúng ta sẽ nhìn người ấy ra sao? Ta có đủ kiên nhẫn cho người ấy hỏi những câu căn bản mà mình đã quen nghe đến nỗi không còn muốn giải thích? Ta có biết trân trọng gia đình, quá khứ và những mối dây tình cảm của họ? Hay ta chỉ mong họ học cho xong vài bài, lãnh nhận bí tích, rồi trở nên giống mình càng nhanh càng tốt? Hành trình của thầy Dương nhắc tôi rằng người tân tòng có thể đem đến cho Hội Thánh những ân huệ mà Hội Thánh chưa nhìn thấy ngay. Ngày thầy chịu phép Rửa, không ai cần biết trước thầy sẽ là thầy của những ai để dành cho thầy sự đón tiếp trọn vẹn. Nhưng khi nhìn lại, ta càng hiểu vì sao phải kính trọng từng người đang gõ cửa Hội Thánh. Người ấy đến để gặp Chúa; rồi chính Chúa có thể sai người ấy đi theo một con đường chúng ta không dự tính nổi.

Cũng vậy, nếu hôm nay một giáo dân có khả năng suy tư và giảng dạy đang sống giữa cộng đoàn chúng ta, ta có biết tạo điều kiện để người ấy phục vụ không? Một đời thầy Nguyễn Khắc Dương là lời nhắc rằng Hội Thánh cần những người thầy giáo dân được đào tạo nghiêm túc, yêu Chúa chân thành và được tin tưởng trao trách nhiệm thích hợp. Có những điều một linh mục học từ linh mục khác; cũng có những điều linh mục cần học từ người giáo dân đã sống một kinh nghiệm đức tin khác mình. Thầy Dương bước vào Công giáo bằng con đường của người tìm kiếm. Chính ký ức tìm kiếm ấy có thể giúp thầy nói với người đang học đạo, với chủng sinh, với trí thức hay với người hoài nghi bằng một sự nhạy cảm riêng. Khi Hội Thánh lắng nghe những tiếng nói như thế, đời sống đào tạo trở nên phong phú hơn.

Tôi nghĩ tới thầy ở tuổi già, và nghĩ tới những học trò của thầy đã mang chức vụ, trách nhiệm khác nhau. Trước mặt Chúa, quan hệ thầy trò không bị xóa bởi việc học trò được truyền chức. Một giám mục có thể ban phép lành cho người thầy già của mình. Người thầy già ấy có thể nhận phép lành với lòng kính trọng vị mục tử; còn đức cha vẫn có thể nhìn thấy nơi thầy người đã từng giúp mình học hỏi. Tôi không kể đây như một cuộc gặp cụ thể đã diễn ra, mà như hình ảnh nói lên sự đẹp đẽ của Hội Thánh: mỗi người nhận và trao theo ơn gọi của mình. Có những lúc người thầy cần được học trò chăm sóc. Có những lúc học trò đã làm giám mục vẫn cần nhớ mình từng là người phải học. Nếu giữ được sự khiêm tốn hai chiều ấy, chúng ta sẽ bớt dùng danh xưng để dựng khoảng cách.

Trong Thánh lễ tạ ơn mừng thầy 95 tuổi tại quê nhà, Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã chủ sự và cộng đoàn cùng tạ ơn vì đời thầy. Bản tường thuật ghi lại lời mời gọi nhận ra tình yêu Thiên Chúa đã thúc đẩy và biến đổi một người con của miền đất Hà Tĩnh thành chứng nhân trong công việc của mình. Tôi rất thích cách nhìn ấy: chứng nhân trong công việc của mình. Chúa không chỉ hiện diện trong những quyết định có vẻ phi thường như trở lại đạo hay đi tìm đời tu. Chúa còn được làm chứng trong cách một người chuẩn bị bài giảng, sửa bài cho học trò, kiên nhẫn giải thích một ý khó, đi thăm người đau khổ, trao một cuốn sách đúng lúc. Hàng ngàn việc nhỏ đó không dễ đưa lên một tấm ảnh tưởng niệm. Nhưng có lẽ chính chúng đã làm cho bao người tiếp tục gọi thầy là “thầy”. 

Thầy về Nhà Chúa ngày 28 tháng 9 năm 2026, chỉ ít ngày sau sinh nhật thứ một trăm lẻ một. Tin thầy qua đời khiến chúng ta đọc lại cuộc đời ấy trong ánh sáng của niềm hy vọng phục sinh. Nhưng hy vọng Kitô giáo không miễn cho ta nỗi buồn. Một người thầy mất đi, học trò mất một địa chỉ để quay về. Một thế hệ chứng nhân ra đi, người trẻ mất cơ hội ngồi trước mặt họ để hỏi: “Ngày ấy thầy đã tin như thế nào? Thầy đã vượt qua nghi nan ra sao? Điều gì giữ thầy ở lại với Chúa?” Bài viết có thể giữ lại một phần câu trả lời; không bài viết nào thay được giọng nói, ánh mắt, khoảng lặng của người thật. Vì thế, khi còn có thể, chúng ta cần lắng nghe các bậc thầy già. Và khi các ngài đã qua đời, chúng ta cần gìn giữ chứng từ của các ngài bằng sự chính xác, lòng biết ơn và lời cầu nguyện. 

Tôi muốn nói một lời với những người đang làm mục tử và những người đang chuẩn bị làm mục tử. Khi nhớ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, xin đừng chỉ nhớ một giáo sư thông thạo triết học. Hãy nhớ người thầy ấy bắt đầu hành trình Công giáo như một người đến từ bên ngoài. Điều đó có thể làm thay đổi cách ta tiếp người chưa tin, người tân tòng, người khác truyền thống với mình. Có khi người đang ngồi cuối lớp giáo lý hôm nay sẽ giúp đào tạo các thế hệ Kitô hữu ngày mai. Có khi người đang hỏi một câu làm ta lúng túng hôm nay sẽ viết một cuốn sách giúp người khác hiểu đức tin sâu hơn. Ta không biết. Điều ta biết là mỗi con người phải được đón tiếp vì chính phẩm giá của họ, và mỗi hành trình đức tin cần được nâng đỡ bằng sự thật cùng lòng kiên nhẫn.

Tôi cũng muốn nói với người giáo dân đang âm thầm dạy học, dạy giáo lý, nghiên cứu, viết lách hoặc đồng hành với người trẻ. Thầy Dương cho thấy sự phục vụ của anh chị em có thể đi xa hơn những gì chính mình thấy. Một giờ học nghiêm túc có thể giúp người nghe nhiều năm sau mới phân định được một vấn đề mục vụ. Một thái độ tôn trọng có thể ở lại trong trí nhớ học trò khi họ phải đối diện với người bất đồng. Một chứng tá tin Chúa mà không bỏ suy nghĩ có thể cứu người trẻ khỏi lầm tưởng rằng phải lựa chọn giữa trí tuệ và đức tin. Anh chị em không cần biết trước học trò của mình về sau sẽ làm gì. Hãy dạy và sống thật với những người Chúa trao hôm nay. Phần còn lại thuộc về thời gian và ân sủng.

Cuối cùng, câu chuyện thầy Dương trả lời một nỗi lo thầm kín của nhiều người: “Tôi đến với Chúa muộn, tôi có còn gì để dâng không?” Thầy không lớn lên trong Công giáo từ thuở nằm nôi. Thầy nhận Bí tích Rửa tội khi đã là một thanh niên có suy nghĩ, ký ức và chọn lựa riêng. Rồi trước mặt thầy còn mở ra nhiều thập niên phục vụ. Dĩ nhiên, không phải ai trở lại đạo cũng sẽ là giáo sư của các giám mục; đó cũng không phải thước đo của một cuộc trở lại thành công. Điều thầy làm chứng là không có một xuất phát điểm duy nhất cho đời sống phong phú trong Chúa. Người được rửa tội lúc nhỏ và người được rửa tội lúc trưởng thành đều phải tiếp tục thưa lời “xin vâng”. Ân sủng đã đi vào đời thầy không đóng khung thầy trong danh xưng “tân tòng” mãi mãi. Nó lớn lên qua năm tháng học hỏi, làm việc, yêu thương và trung thành.

Từ mái nhà Nho học ở Hà Tĩnh tới giếng rửa tội tại Nghĩa Yên; từ chỗ phải học biết đạo Chúa tới chỗ đứng lớp cho những người về sau trở thành linh mục, tu sĩ và giám mục: con đường ấy khiến tôi muốn tạ ơn. Tạ ơn vì Chúa đã gọi một con người cụ thể, với toàn bộ gia phong và quá khứ của thầy. Tạ ơn vì Hội Thánh đã có thể nhận nơi thầy một người thầy giáo dân. Tạ ơn vì bao môn sinh đã được thầy đồng hành. Và tạ ơn vì chính các đức cha, các linh mục, tu sĩ từng là học trò của thầy nhắc chúng ta một điều giản dị: trước khi dạy người khác, ai cũng đã được người khác dạy; trước khi dẫn đường, ai cũng đã được dẫn đi một đoạn đường.

Thầy Stêphanô kính mến, hôm nay chúng con không chỉ nhớ thầy như người có nhiều học trò thành đạt. Chúng con nhớ người thanh niên đã đi tìm Đức Kitô và đã dám đáp lại Người. Chúng con nhớ người giáo dân mà Chúa dùng để phục vụ việc đào tạo những người mang chức thánh. Chúng con nhớ một người thầy không cần là giám mục để yêu Hội Thánh và giúp Hội Thánh có những mục tử biết suy nghĩ. Xin thầy tha cho sự vụng về của chúng con khi cố gói một đời người dài hơn một thế kỷ vào vài trang giấy. Chúng con sẽ cầu nguyện cho thầy; và để lòng biết ơn có hình hài, chúng con sẽ cố gắng đón tiếp người đang tìm đạo, kính trọng người khác niềm tin, lắng nghe giáo dân, và dạy người trẻ bằng cả trí tuệ lẫn trái tim.

Lạy Chúa Giêsu, xin thương đón nhận linh hồn thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương. Chúa đã thấy những bước đầu thầy đến với Hội Thánh; Chúa cũng thấy những khuôn mặt học trò đã đi qua lớp học và đời thầy. Xin tha thứ mọi thiếu sót của thầy, thanh luyện những gì còn cần được thanh luyện và cho thầy nghỉ yên trong ánh sáng Chúa. Xin chúc lành cho các đức cha, linh mục, tu sĩ và mọi môn sinh từng nhận điều tốt lành nơi thầy, để những gì họ học được tiếp tục sinh hoa trái trong việc phục vụ con người. Xin cho chúng con đừng bao giờ khép cửa trước một người đang tìm Chúa, vì chúng con không biết Chúa đang chuẩn bị nơi người ấy món quà nào cho Hội Thánh mai sau. Amen.

Lm. Anmai, CSsR. - TỪ NGƯỜI NGOÀI ĐẠO ĐẾN NGƯỜI THẦY CỦA CÁC GIÁM MỤC

Ảnh: Vicente Nguyễn Thương

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây