Cựu Chủng Sinh Huế

http://www.cuucshuehn.net


Hai năm sau khi rời đời sống tu trì: Những suy tư về ân sủng, hôn nhân và chủ nghĩa giáo sĩ

Chúng ta cần phải làm tốt hơn nữa trong việc yêu thương và chăm sóc hàng ngàn người nam và nữ trên khắp thế giới — những người, bất chấp những áp lực ấy, vẫn tiếp tục giữ vững đức tin và sống cuộc đời mình với sự ngay chính và tình yêu thương.
tu xuat

Đã gần hai năm kể từ khi tôi công khai chia sẻ trên NCR (National Catholic Reporter) rằng tôi đã quyết định rời đời sống tu trì sau một thời gian dài cầu nguyện, suy tư và đối thoại. Tôi đã là thành viên của dòng Phanxicô trong 20 năm và là linh mục đã được hơn 12 năm. Với tư cách là một học giả và nhân vật hoạt động trong đời sống công chúng, vượt ra ngoài phạm vi mục vụ, tôi vốn quen chia sẻ những suy nghĩ và quan điểm của mình với công chúng rộng rãi.

Tuy nhiên, vốn là người khá kín đáo về đời tư, tôi hiếm khi nói về cuộc sống cá nhân trong các bài viết hay những dịp công khai khác, mà thường tập trung vào các vấn đề thần học, văn hóa, Giáo hội và chính trị. Vì thế, việc chia sẻ một tin tức hết sức riêng tư như vậy trong một bối cảnh công khai là một trải nghiệm mới đối với tôi, đồng thời đem lại nhiều ân sủng mà tôi không ngờ tới.

Như tôi đã chia sẻ trong bài viết năm 2024, khi công bố quá trình phân định và chuyển tiếp của mình — hay transitus trong tiếng Latinh, như tôi đã giải thích khi ấy — từ đời sống tu trì sang đời sống giáo dân, tôi cảm nhận sâu sắc sự nâng đỡ của cộng đoàn Phanxicô nói chung và đặc biệt là của những người giữ vai trò lãnh đạo. Điều này càng được chứng minh qua vô số tin nhắn, cuộc điện thoại, thư điện tử và thư tay động viên mà tôi nhận được từ các tu sĩ Phanxicô, cũng như từ hàng giáo sĩ, giáo dân và thậm chí một số giám mục tại Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới. Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé trước tình cảm ấy và cho đến nay vẫn hết lòng biết ơn sự quan tâm và nâng đỡ mà mọi người đã dành cho tôi.

Chỉ vài tháng sau khi tôi công khai câu chuyện, tiến trình mà tôi đã bắt đầu trước đó để xin miễn chuẩn chính thức khỏi các lời khấn tu trì và khỏi điều mà giáo luật gọi là “các nghĩa vụ của Chức Thánh” đã hoàn tất, với sự ủng hộ của vị tân Giám mục Rôma. Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã chấp thuận lời thỉnh cầu mà tôi đã cầu nguyện và suy xét kỹ lưỡng, mở ra một chương mới trong hành trình thiêng liêng của tôi: vẫn là một người Phanxicô trong tâm trí và con tim, dù không còn là một tu sĩ Phanxicô theo lời tuyên khấn.

Việc được miễn chuẩn khỏi các lời khấn tu trì tương đối đơn giản. Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến Chức Thánh phức tạp hơn một chút. Thần học bí tích của Giáo hội rất rõ ràng: một bí tích thành sự không thể bị hoàn tác. Vì thế, ngay cả Đức Giáo hoàng cũng không thể “hoàn chức” một linh mục đã được truyền chức thành sự. Thay vào đó, tôi được miễn chuẩn khỏi “các nghĩa vụ” của Chức Thánh — chẳng hạn như nghĩa vụ đọc Kinh Phụng vụ Giờ Kinh, sống độc thân giáo sĩ, v.v…

Mặc dù nói rằng tôi đã chính thức rời đời sống tu trì là điều hoàn toàn đúng, nhưng có lẽ cách tốt nhất là nghĩ về điều đó — như đôi khi chính tôi vẫn nghĩ — như việc nghỉ hưu khỏi thừa tác vụ linh mục. Tôi không hối tiếc về những thập niên phục vụ công khai của mình, nhưng những ngày ấy, cũng như việc công khai cử hành các bí tích, nay đã ở phía sau tôi, giống như một bác sĩ nghỉ hưu sau khi không còn hành nghề y, hay một sĩ quan quân đội trở về đời sống dân sự.

Nói về những chương mới, có một điều khác tôi muốn chia sẻ: tôi đã cử hành một bí tích khác, lần này là bí tích Hôn phối! Trong số những ân sủng tôi đã nhận được trong hai năm qua, có phúc lành và cơ hội để khám phá sâu hơn mối tương quan với một người bạn thân mà tôi đã quen biết gần 15 năm. Mối quan hệ này không phải là lý do khiến tôi phân định ơn gọi và cuối cùng rời đời sống tu trì. Nhưng một khi quyết định ấy đã được chính thức hóa, Chúa Thánh Thần đã mở ra một khả năng khác cho tôi.

Tôi biết nói về việc “kết hôn với người bạn thân nhất” là một cách diễn đạt khá sáo mòn, nhưng trong trường hợp của tôi, không có cách nào tốt hơn để mô tả trải nghiệm của cuộc chuyển tiếp này: từ những người bạn và đồng nghiệp thân thiết trở thành những người bạn đời trong hôn nhân. Người vợ hiện nay của tôi cũng là một nhà thần học Công giáo và giáo sư, một người hết lòng với đức tin của mình, đồng thời dấn thân cho công bằng xã hội và bênh vực những người ở bên lề xã hội cũng như Giáo hội.

Chúng tôi đã làm việc cùng nhau trong nhiều năm và biết nhau như những người bạn, vì thế, mọi chuyện không có cảm giác như chúng tôi bắt đầu một điều gì hoàn toàn mới, mà đúng hơn là đang đào sâu một tình yêu, một sự gắn kết và tinh thần tôn trọng lẫn nhau vốn đã có một nền tảng vững chắc. Cả hai chúng tôi đều không bao giờ nghĩ cuộc đời mình sẽ diễn ra theo cách như vậy, nhưng chúng tôi rất hạnh phúc và biết ơn vì mọi chuyện đã xảy ra như thế. Điều đó càng được xác nhận vào đầu năm nay, khi chúng tôi kết hôn trong Giáo hội, trong một thánh lễ do một linh mục Dòng Tên, cũng là người bạn và đồng nghiệp của chúng tôi, cử hành, với sự hiện diện của những thành viên thân thiết nhất trong gia đình.

Đối với một số người, có lẽ thật kỳ lạ khi một người từng có cảm nhận sâu sắc về tiếng Chúa gọi mình vào một bậc sống — làm tu sĩ và linh mục — nay lại có một cảm nhận sâu sắc không kém về tiếng Chúa gọi vào đời sống hôn nhân. Nhưng tất cả những gì tôi có thể nói là: trải nghiệm ấy đối với tôi tràn đầy ân sủng và thực sự được Chúa Thánh Thần soi dẫn. Thiên Chúa quả thật tốt lành, nhưng Thiên Chúa cũng đầy mầu nhiệm và luôn chứa đựng những bất ngờ.

Ngoài những cập nhật trên, có ít nhất một điều tôi muốn chia sẻ về trải nghiệm của mình trong hai năm qua. Theo một cách mà tôi hoàn toàn không lường trước, hàng chục người nam cũng như nữ đã liên lạc, viết thư hoặc đến gặp tôi tại các sự kiện công khai để chia sẻ những kinh nghiệm và câu chuyện của chính họ về việc rời đời sống tu trì hoặc chức linh mục giáo phận. Tôi đã có nhiều cuộc trò chuyện bên ly cà phê hoặc trong những bữa ăn với những người nói với tôi rằng họ chưa từng thấy ai minh bạch đến như vậy, hoặc công khai chia sẻ kinh nghiệm phân định và rời bỏ đời sống tu trì hay chức linh mục của mình.

Một số người trong họ có những trải nghiệm tích cực tương tự như tôi, khi hội dòng hoặc giám mục giáo phận đã nâng đỡ và đồng hành mục vụ với họ. Nhưng phần lớn các câu chuyện lại khiến tôi đau lòng. Trong những trường hợp ấy, các bề trên dòng hoặc giám mục đã khiến cuộc sống của họ trở nên khó khăn, lập tức cắt đứt sự hỗ trợ về tài chính và tinh thần, và trong một số trường hợp còn từ chối ủng hộ đơn thỉnh cầu của họ gửi lên Vatican để được miễn chuẩn chính thức khỏi các lời khấn hoặc khỏi các nghĩa vụ của Chức Thánh.

Trong nhiều thập niên, đặc biệt dưới triều đại giáo hoàng kéo dài của Đức Gioan Phaolô II, chính Vatican đã từ chối thừa nhận những trường hợp này và không ban miễn chuẩn. Điều đó có nghĩa là nhiều người trong số họ không được phép kết hôn trong Giáo hội. Họ rơi vào một tình trạng lấp lửng về mặt giáo luật, mắc kẹt giữa một bên là thừa tác vụ công khai mà họ không còn được phép thi hành, và bên kia là đời sống giáo dân bình thường mà giờ đây họ cảm thấy mình được mời gọi sống.

Lắng nghe những câu chuyện ấy khiến tôi buồn, nhất là vì hầu như tất cả những tu sĩ hoặc linh mục giáo phận đã rời chức vụ này vẫn tiếp tục sống đức tin, thường xuyên tham dự Thánh lễ và tích cực tham gia vào đời sống giáo xứ. Bất chấp sự thiếu tôn trọng và những đối xử tàn nhẫn mà họ đã phải chịu, những người nam và nữ ấy vẫn tự tìm con đường tiến về phía trước; một số người cuối cùng đã tìm được giải pháp cho những hoàn cảnh giáo luật bất công mà họ đã phải chịu đựng suốt nhiều thập niên.

Mặc dù câu chuyện của mỗi người đều khác nhau, có một chủ đề liên tục xuất hiện trong những cuộc trò chuyện ấy: sự xấu hổ.

Mỗi người tôi gặp đều cảm thấy mình đang thành tâm tìm kiếm và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Thế nhưng, gần như tất cả đều nói rằng họ thường xuyên bị làm cho cảm thấy xấu hổ. Cần phải nói rõ: không phải chính những người rời bỏ đời sống tu trì cảm thấy xấu hổ về sự phân định hay quyết định của mình. Vấn đề là họ bị người khác làm cho cảm thấy xấu hổ — bởi các bề trên, giám mục hoặc những thành viên khác trong cộng đoàn, qua những cách thức công khai hoặc ngấm ngầm, truyền đạt cho họ rằng họ phải cảm thấy tồi tệ về con đường thiêng liêng và cuộc đời mà mình đã chọn.

Và vì thế, thông điệp mà họ nhận được rất rõ ràng: Đừng nói về chuyện này. Đừng thừa nhận chuyện này. Cứ lặng lẽ bước tiếp.

Nhưng như tôi đã chia sẻ với từng người trong số họ khi nói về kinh nghiệm của chính mình, tôi không cảm thấy như vậy, cũng không bị làm cho cảm thấy xấu hổ hay bị gây áp lực phải hối tiếc về những thập niên sống đời tu trì và thi hành thừa tác vụ. Đó là lý do tại sao tôi không hề do dự khi công khai câu chuyện của mình, để làm chứng rằng — qua rất nhiều lời cầu nguyện, đồng hành thiêng liêng, tư vấn và đối thoại — tôi đã đi đến một nơi mà ở đó tôi có thể nhìn cuộc chuyển tiếp này không phải như một sự đảo ngược hay phủ nhận quá khứ, nhưng như một chương mới của cuộc đời và đức tin, được Chúa Thánh Thần dẫn dắt. Đồng thời, tôi ngày càng biết ơn sự nâng đỡ huynh đệ và thiêng liêng mà chính dòng tu của tôi đã dành cho tôi.

Tuy nhiên, tôi vẫn không ngừng suy nghĩ về điều mà chúng ta, với tư cách là Giáo hội, mắc nợ những người đã tự nguyện và trung thành rời thừa tác vụ linh mục cũng như đời sống tu trì, nhưng lại nhận được một cách đối xử hoàn toàn khác với tôi.

Câu chuyện của họ là một chứng từ nữa về nền văn hóa nguy hiểm của sự xấu hổ và im lặng trong Giáo hội; về một di sản tội lỗi của sự thiếu tôn trọng, tàn nhẫn và bỏ rơi; và về chủ nghĩa giáo sĩ ăn sâu, vốn thúc đẩy những cách hành xử bi thảm như thế.

Chúng ta cần phải làm tốt hơn nữa trong việc yêu thương và chăm sóc hàng ngàn người nam và nữ trên khắp thế giới — những người, bất chấp những áp lực ấy, vẫn tiếp tục giữ vững đức tin và sống cuộc đời mình với sự ngay chính và tình yêu thương.

Daniel P. Horan – Nguồn: 2 years after leaving religious life: Reflections on grace, marriage and clericalism

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây